Filed under: The Third Eye
Những niềm tin của người Tây Tạng
Có lẽ là phải đưa ra đây một vài chi tiết về lối sống của chúng tôi. Tôn giáo của chúng tôi là một dạng của Phật giáo, nhưng không có một từ nào có thể dịch cho sát nghĩa được. Chúng tôi nhắc đến nó như là “Tôn Giáo”, và đối với những người của tín ngưỡng của chúng tôi là “Người bên trong”. Những người thuộc các tín ngưỡng khác được gọi là “Người ngoài”. Từ gần nhất, được biết đến ở phương Tây, là đạo Lama. Nó xuất phát từ Phật giáo nhưng tôn giáo của chúng tôi là một tôn giáo của hy vọng và của niềm tin vào tương lai. Phật giáo, đốI vớI chúng tôi có vẻ tiêu cực, một tôn giáo bi quan. Chúng tôi chắc chắn cũng không nghĩ rằng có một người cha thấu hiểu mọi thứ đang trông nom và canh gác mọi người, mọi nơi.
Rất nhiều ngườI có học đã đưa những lời nhận xét uyên bác về tôn giáo của chúng tôi. Rất nhiều người trong họ đã kết án chúng tôi bởi vì họ đã bị che mờ bởI tín ngưỡng của họ, và không thể nào nhìn theo một góc độ khác. Ngay cả một số người khác đã gọi chúng tôi là “tà giáo” bởi vì lối sống của chúng tôi hoàn toàn xa lạ đối với họ. Hầu hết những tác giả này đều dựa ý kiến của họ trên lờI đồn hoặc những bản sách của các tác giả khác. Có lẽ là rất ít người đã nghiên cứu tín ngưỡng của chúng tôi trong một vài ngày và sau đó đã cảm thấy có khả năng biết tất cả, viết sách về đề tài đó, và suy diễn và làm như là biết tất cả những gì mà những nhà hiền triết thông minh nhất của chúng tôi đã phảI tốn cả đời người để khám phá ra.
Tưởng tượng về những lờI dạy của một ngườI theo Phật giáo hoặc Ấn Độ giáo ngườI chỉ mớI lật qua vài trang của Kinh Thánh của Đạo Thiên Chúa trong một hoặc hai giờ và sau đó cố gắng giảI thích tất cả những điểm tinh vi hơn của Đạo Thiên chúa! Không có một ai trong những tác giả viết về đạo Lama đã từng sống như là một tu sỹ trong một tu viện Tây Tạng từ thuở thơ ấu và nghiên cứu những Cuốn Kinh Thiêng. Những bộ Kinh này được cất trong những nơi bí mật; bí mật bởI vì chúng không được để sẵn ra cho những ngườI chỉ muốn một sự cứu rỗI linh hồn một cách nhanh chóng, không tốn công sức và rẻ tiền. Những ngườI muốn sự an ủi của một vài lễ nghi, một vài dạng tự kỷ ám thị, có thể có nó nếu nó sẽ giúp đỡ họ. Đó không phải là Sự Thật Nội Tại, nhưng đó chỉ là sự tự lừa dốI chính mình mang tính trẻ con. Một số người cảm thấy có vẻ rất dễ chịu khi nghĩ rằng tội lỗi kế tiếp tội lỗi có thể phạm phảI và sau đó, khi mà lương tâm thôi thúc quá đáng, một món quà cúng dường loạI nào đó đưa đến đền thờ gần nhất sẽ làm tràn ngập những vị thần vớI lòng biết ơn để mà sự tha thứ sẽ có ngay lập tức, bao trùm tất cả, và chắc chắn, và sẽ cho phép ngườI ta lạI thoả thích trong một chuỗI những tộI lỗi mới khác. Có một Thượng Đế, một Đấng TốI Cao. Có quan trọng gì cách mà chúng ta gọi Ngài? Thượng Đế là một sự thật.
Những ngườI Tây Tạng đã nghiên cứu những lời dạy đích thực từ Đức Phật không bao giờ cầu nguyện cho lòng khoan dung hay là cho những ân huệ, nhưng chỉ cầu nguyện cho sự công bằng mà họ có thể nhận được từ Con Người. Một Đấng Tối Cao, như là điều cốt lõi nhất của sự công bằng, không thể bày tỏ sự khoan dung cho người này mà không cho kẻ khác, bởi vì nếu làm như vậy sẽ là sự từ chối của công bằng. Cầu nguyện cho sự khoan dung hay cho những ân huệ, hứa hẹn vàng bạc nhang đèn nếu như lờI cầu nguyện được đáp lạI, nghĩa là có ý nói rằng sự cứu rỗI linh hồn chỉ có sẵn cho ngườI trả giá cao nhất, nghĩa là Thượng Đế đang thiếu tiền và có thể “mua chuộc” được.
Con ngườI có thể bày tỏ sự khoan dung đốI vớI con ngườI, nhưng điều đó rất hiếm khi xảy ra; chỉ có Đấng Tối Cao có thể bày tỏ sự công bằng. Chúng ta là những linh hồn bất tử. LờI cầu nguyện của chúng tôi:
“OM MANI PAD-ME HUM!”- thường được dịch theo nghĩa đen như là “Hoan nghênh Viên Ngọc Quý giữa Toà Sen !” Chúng tôi đã đi xa hơn một chút để biết nghĩa thực sự của câu chú đó là “Hoan nghênh Đấng Bề Trên của Con Người!” Không có sự chết. Giống như là một người cởi bỏ áo quần vào cuối của một ngày, một linh hồn cũng có thể cởI bỏ thân xác khi thân xác đi ngủ. Như là một bộ áo quần bị bỏ đi sau khi đã được mặc sờn, linh hồn cũng vứt bỏ đi thân xác khi thân xác bị mòn hay rách nát. Chết là Tái Sinh. Chết đi chỉ đơn giản là một hành động của việc được sinh ra trong một cõi tồn tại khác. Con người, hay là linh hồn của Con NgườI, là vĩnh viễn bất diệt. Thân xác chỉ đơn thuần là một bộ áo quần tạm thờI được mặc bởI linh hồn, được chọn tuỳ theo nhiệm vụ trong tay trên Trái Đất. Diện mạo bên ngoài là không quan trọng. Linh hồn bên trong mớI là quan trọng. Một nhà tiên tri vĩ đạI có thể đến và giả dạng như là một kẻ khốn cùng – có cách nào tốt hơn để thử lòng khoan dung của Con Người đối vớI Con Người ! Khi mà một người đã phạm tội trong một kiếp trước có thể lần này được sinh ra giàu có để thấy rằng liệu là anh ta có mắc phảI sai lầm khi không có sự nghèo túng làm thôi thúc anh ta như trước đó.
“Bánh Xe Luân Hồi” (The Wheel of Life) là những gì mà chúng tôi gọi quá trình của việc sinh ra, sống trong một thế giới nào đó, chết đi, trở lại dạng linh hồn, và trong một thời gian sau đó được tái sinh trở lại trong những hoàn cảnh và những điều kiện khác. Một ngườI đàn ông có thể chịu đựng nhiều đau khổ trong một kiếp sống, điều đó không có nghĩa là anh ta là một kẻ xấu xa trong kiếp trước của anh ta; đó có khi là cách tốt nhất và nhanh nhất để học hỏI một số điều nào đó. Kinh nghiệm thực tế là một ngườI thầy tốt hơn là những lời đồn đại! Một ngườI đã tự tử có thể tái sinh để sống hết những năm tháng bị cắt ngắn đi trong kiếp sống trước, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những ngườI chết trẻ hoặc là những em bé đều là người tự tử. Bánh Xe Luân Hồi áp dụng cho tất cả mọi người, những kẻ ăn mày cũng như những bậc vua chúa, nam cũng như nữ, người da màu cũng như người da trắng. Bánh Xe dĩ nhiên chỉ là một biểu trưng, nhưng là một biểu trưng làm cho mọI việc đều rõ ràng cho những ngườI không có thì giờ để nghiên cứu sâu về đề tài đó. Người ta không thể nào giảI thích những tín ngưỡng của ngườI Tây Tạng chỉ trong một hay hai đoạn văn ngắn; bộ Kan-gyur, hoặc là những Bộ Kinh Tây Tạng, bao gồm trên một trăm cuốn sách về đề tài này, và ngay cả đến như vậy nó vẫn không được luận bàn đến một cách hoàn toàn. Có rất nhiều cuốn sách khác được cất giấu trong những tu viện xa xôi hẻo lánh chỉ được biết đến bởI những những ngườI đã thụ giáo mà thôi.
Trong nhiều thế kỉ qua những ngườI phương Đông đã biết đến nhiều loại lực và luật huyền bí khác nhau và những điều này là tự nhiên. Thay vì cố gắng để phủ nhận những lực như vậy dựa trên sự kiện là chúng không thể nào được cân đo hay là được thử bởi axít, là chúng không thể tồn tại, những khoa học gia và nghiên cứu gia của phương Đông đã phấn đấu để gia tăng sự điều khiển đối vớI những luật lệ của tự nhiên này. Cơ chế vận hành của việc nhìn xuyên thấu được cả những cái vô hình, chẳng hạn, không làm cho chúng tôi thích thú, những kết quả của việc nhìn xuyên thấu đó thì được chúng tôi để ý đến. Một số ngườI nghi ngờ về khả năng nhìn xuyên thấu đó; họ giống như là những ngườI sinh ra đã bị mù và nói rằng sự nhìn là điều không thể có bởI vì họ đã không trảI qua những kinh nghiệm đó, bởI vì họ không thể nào hiểu được làm như thế nào mà một vật thể ở một khoảng cách rất xa lạI có thể được nhìn thấy khi mà điều hiển nhiên là không có sự liên lạc giữa vật đó và đôi mắt!
Con ngườI có aura, những đường nét với nhiều màu sắc bao phủ xung quanh cơ thể, và bởI cường độ của những màu sắc đó mà những ngườI có kinh nghiệm trong nghệ thuật đó có thể suy đoán được sức khoẻ của một ngườI, tình trạng toàn vẹn, và trạng thái tiến hoá tổng quát. Aura này là sự phát xạ của lực sống nộI tạI, của bản ngã, hay là của linh hồn. Xung quanh đỉnh đầu là một quầng sáng, hoặc là hào quang, cũng là một phần của trường lực này. Khi chết ánh sáng sẽ mờ dần đi khi linh hồn rời khỏI thân xác trong cuộc hành trình của nó để đi đến giai đoạn tồn tại kế tiếp. Nó trở thành “ma”. Nó trượt đi một tý, có lẽ hơi choáng bởI sự sửng sốt đột ngột của việc được tự do khỏI thân xác. Nó có thể không hoàn toàn nhận thức được những điều gì đang xảy ra. Điều này giảI thích tạI sao là những vị lạt ma theo dõi ngườI đang hấp hốI để họ được thông báo về những giai đoạn mà họ sẽ phảI đi qua. Nếu như điều này bị sao nhãng, linh hồn có thể vẫn bị trói buộc lạI nơi trái đất bởI những ham muốn của thân xác. Chính là nhiệm vụ của những vị tu sỹ để phá vỡ những trói buộc này.
Chúng tôi thường xuyên có những lễ cho việc Hướng dẫn Hồn Ma. Chết không gây nên nỗI kinh hoàng cho ngườI Tây Tạng, nhưng chúng tôi tin rằng ngườI ta có thể có một sự chuyển trạng thái dễ dàng hơn từ kiếp sống này đến kiếp sống kế tiếp nếu như một số phòng ngừa nào đó được tuân theo. Điều cần thiết là phảI tuân theo những con đường đã được định ra một cách rõ ràng, và suy nghĩ theo những hướng nhất định nào đó. Lễ phảI được cử hành trong một đền thờ vớI khoảng ba trăm nhà sư hiện diện. TạI trung tâm của đền thờ sẽ là một nhóm có lẽ khoảng năm vị lama có khả năng thần giao cách cảm ngồI theo một vòng tròn, mặt đối mặt. Khi những vị sư, được hướng dẫn bởI một vị thượng tọa, tụng kinh, những lạt ma sẽ cố gắng duy trì liên lạc thần giao cách cảm vớI những linh hồn đau khổ. Không một sự biên dịch nào từ những lờI cầu nguyện của ngườI Tây Tạng có thể đem lạI công bằng hoàn toàn cho họ, nhưng đây là một cố gắng:
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, tất cả chúng sinh đang lang thang không ngườI hướng dẫn trong những vùng Ranh Giới. NgườI sống và ngườI chết là ở trong những thế giớI tách biệt nhau. Những khuôn mặt và những tiếng nói (của họ) có thể được thấy và được nghe ở nơi đâu? Nén nhang đầu tiên này được thắp lên để triệu tập một hồn ma lang thang để mà anh ta sẽ được hướng dẫn.
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, tất cả các chúng sinh đang đi lang thang. Đây là Thế GiớI của Ảo Vọng. Cuộc đờI chỉ là một giấc mơ. Tất cả những ai sinh ra đều phảI chết đi. Chỉ có Con Đường của Buddha là dẫn đến cuộc sống vĩnh hằng. Nén nhang thứ ba được thắp lên để triệu tập một hồn ma đang lang thang để mà anh ta sẽ được hướng dẫn.
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, tất cả các chúng sinh đang có nhiều quyền lực, các chúng sinh đã được đặt lên ngai vàng vớI những núi non và sông ngòi dướI quyền trị vì. Những triều đình của các anh chỉ kéo dài trong phút chốc, và những lờI ta thán của ngườI dân về các anh không bao giờ chấm dứt. Mặt đất chảy đầy máu, và những ngọn lá trên cây rung động vì tiếng thở dài của những ngườI bị áp bức. Nén nhang thứ tư được thắp lên để triệu tập những hồn ma của các bậc đế vương và độc tài để mà họ sẽ được hướng dẫn.
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, tất cả các chiến binh ngườI đã từng đi xâm lược, bị trọng thương và bị giết hại. Những kẻ thù của các anh bây giờ ở nơi đâu? Mặt đất kêu rên, cỏ dại mọc lên trên khắp các chiến trường. Nén nhang thứ năm được thắp lên để triệu tập những hồn ma cô độc của các vị tướng và các lãnh chúa để được hướng dẫn.
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, tất cả các nghệ sỹ và các học giả, các bạn đã làm ra những bức tranh và các tác phẩm văn chương. Trong một cách vô ích các bạn đã làm căng cả mắt và làm mài mòn những nghiên mực. Không một cái gì của các bạn được ghi nhớ lại, và những linh hồn của các bạn vẫn phải tiếp tục đi. Nén nhang thứ sáu được thắp lên để triệu tập những hồn ma của các nghệ sỹ và của các học giả để được hướng dẫn.
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, những cô gái trinh nữ và những cô gái quyền quý xinh đẹp mà tuổi trẻ có thể so sánh với một buổi ban mai của mùa xuân. Sau những cái ôm của ngườI yêu là những lần trái tim tan vỡ. Mùa thu, rồi mùa đông, đến, những cây và những bông hoa tàn phai, và sắc đẹp cũng như vậy, và tất cả trở thành chỉ là những bộ xương. Nén nhang thứ bảy được thắp lên để triệu tập những hồn ma đang lang thang của các trinh nữ và các cô gái quyền quý để mà họ được hướng dẫn siêu thoát khỏi những lưu luyến của cõi trần.
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, tất cả những ngườI ăn mày và những kẻ trộm và những ai đã phạm tộI chống lại kẻ khác và những ai mà bây giờ không thể nào nghỉ ngơi. Linh hồn của các anh lang thang không bạn không bè trong thế giới, và anh không có sự công bằng bên trong bản thân. Nén nhang thứ tám được thắp lên để triệu tập tất cả những hồn ma đã phạm tội và bây giờ đang lang thang trong cô độc.
“Hãy lắng nghe những tiếng nói từ linh hồn của chúng tôi, những cô kỹ nữ, những phụ nữ của bóng đêm, và tất cả những ai đã bị phạm tộI bởI ngườI khác và những ai bây giờ đang lang thang cô độc trong những cõi ma. Nén nhang thứ chín được thắp lên để triệu tập họ cho sự hướng dẫn để họ có thể siêu thoát khỏi những mối liên lạc vớI trần thế.”
Trong lớp sương mờ nghi nghút hương khói trong đền thờ ánh đèn dầu bập bùng sẽ làm những bóng ngườI nhảy múa đằng sau những pho tượng bằng vàng. Không khí sẽ trở nên đậm đặc với sự tập trung của các nhà sư đang bằng thần giao cách cảm cố gắng giữ liên lạc vớI những ngườI vừa rời khỏi thế giới này, nhưng vẫn còn vương vấn bụi trần.
Những nhà sư trong những bộ áo nâu đỏ nhạt đang ngồI trong những hàng đốI mặt lẫn nhau, sẽ đọc những Kinh tụng cho Người Chết, và những cái trống ẩn đâu đó sẽ vang lên những nhịp điệu của trái tim con người. Từ những nơi khác trong đền thờ, giống như là trong một cơ thể sống, sẽ rền lên những tiếng của những bộ phận trong cơ thể, tiếng sột soạt của những chất lỏng trong cơ thể, và tiếng thở dài của không khí trong hai lá phổi. Trong lúc nghi lễ tiếp tục tiến hành, vớI những hướng dẫn của ngườI vừa mớI qua đờI, nhịp độ của những âm thanh của cơ thể sẽ thay đổI, trở nên chậm chạp dần, cho đến cuốI cùng sẽ là những âm thanh của linh hồn đang rờI khỏI thân xác. Một tiếng sột soạt, một tiếng thở hắt ra rung rung, và – sự im lặng. Sự im lặng đến vớI cái chết. Trong sự im lặng đó là một nhận thức, có thể nhận biết được ngay cả vớI ngườI ít nhạy cảm nhất, là những thể sống khác đang xung quanh đâu đó, đang chờ đợI, đang lắng nghe. Dần dần, khi những hướng dẫn thần giao cách cảm được tiếp tục, sự căng thẳng sẽ giảm dần đi khi những linh hồn chưa yên tiếp tục di chuyển đến giai đoạn kế tiếp của cuộc hành trình.
Chúng tôi tin, một cách chắn chắn, rằng là chúng ta được tái sinh không biết bao nhiêu lần. Nhưng không chỉ vào trong trái đất này. Có hàng triệu thế giớI, và chúng tôi biết rằng hầu hết chúng là không có người ở. Những cư dân nơi đó có thể trong những dạng rất khác vớI những dạng mà chúng ta biết, họ có thể tiến bộ hơn hẳn loài người. Chúng tôi ở Tây Tạng không bao giờ giữ quan điểm rằng Con NgườI là dạng cao nhất và dạng quý nhất của sự tiến hoá. Chúng tôi tin rằng những dạng sống cao hơn nhiều có thể được tìm thấy ở một nơi khác (ngoài Trái Đất), và họ không thả những quả bom nguyên tử. Ở Tây Tạng tôi đã thấy những sử sách ghi lạInhững phi thuyền lạ trên bầu trời. “Những phi thuyền của Thần Linh” như là hầu hết ngườI ta gọI chúng. Vị Lạt ma Mingyar Dondup kể vớI tôi rằng một nhóm các lạt ma đã thiết lập được những liên lạc thần giao cách cảm vớI các vị “thần linh” này, họ nói rằng họ đang theo dõi Trái Đất, hiển nhiên là trong một cách gần như là con ngườI đang theo dõi những con thú hoang dã và nguy hiểm trong một vườn bách thú.
Rất nhiều thứ đã được viết ra về thuật khinh công. Điều đó là có thể, như là tôi đã thường xuyên thấy nó, nhưng đó cần nhiều rèn luyện. Không có ý nghĩa gì thật sự trong việc luyện tập khinh công vì có một hệ thống khác đơn giản hơn nhiều. Du hành trong thể astral là một việc dễ dàng hơn và chắc chắn hơn. Hầu hết các lạt ma đều làm điều đó, và bất kì một ai ngườI đã chuẩn bị sẵn sàng sử dụng một chút kiên nhẫn có thể vui thú trong nghệ thuật hữu ích và dễ chịu này.
Trong những giờ thức giấc trên Trái Đất linh hồn của chúng ta bị trói buộc vào thân xác, và ngoạI trừ một ngườI được huấn luyện, việc tách rờI chúng là không thể được. Khi chúng ta ngủ chỉ có thân xác là cần sự nghỉ ngơi, linh hồn tự động thoát đi và thường đi vào những cõi tâm linh trong một cách thức giống như là một đứa trẻ trở về nhà và cuốI của một ngày đi học. Linh hồn và thân xác duy trì sự liên lạc thông qua một “sợi dây bạc”, mà nó có khả năng kéo dài ra vô hạn. Cơ thể vẫn còn sống chừng nào mà sợi dây bạc đó vẫn còn nguyên vẹn; vào lúc chết đi sợi dây bị cắt đi khi mà linh hồn được sinh vào một đời sống mới trong thế giới tâm linh, cũng giống như sợi dây rốn của một em bé vừa mới ra đời được cắt đi để tách bé ra khỏi ngườI mẹ. Sự chào đời, đối với một em bé, là sự chết đi của cuộc sống được che chở trong cơ thể người mẹ của bé. Sự chết đi, đối vớI linh hồn, là sự tái sinh vào trong một thế giớI tâm linh tự do hơn. Khi sợi dây bạc vẫn còn nguyên vẹn, linh hồn được tự do đi chu du trong suốt giấc ngủ, hoặc trong lúc tỉnh đối với một số người được rèn luyện một cách đặc biệt. Sự rong chơi của linh hồn đã tạo ra những giấc mơ, mà những hình ảnh của nó được chuyển tải qua sợi dây bạc. Khi đầu óc nhận được những hình ảnh đó nó “hợp thức hoá” để thích hợp với niềm tin của ngườI đó trên Trái Đất. Trong thế giới của các linh hồn không có khái niệm thời gian – “thời gian” chỉ là một khái niệm đơn thuần vật chất – và chúng ta đã có nhiều trường hợp khi mà những giấc mơ dài và phức tạp dường như chỉ xảy ra trong một phần mấy giây. Có lẽ là hầu hết ai cũng đã từng có một giấc mơ mà trong đó đã đi gặp và nói chuyện vớI một người ở rất xa, có thể là cách vài đại dương. Một số lời nhắn gửi nào đó đã được gửI gắm, và khi tỉnh dậy thường là một cảm giác mạnh về một điều gì đó cần được nhớ lại. Thông thường đó là sự nhớ lại của việc gặp gỡ một người bạn hoặc một người bà con ở xa trong một khoảng thời gian rất ngắn. Trong những người không được rèn luyện trí nhớ thường bị làm sai lệch đi và kết quả là những giấc mơ vô lý hoặc là ác mộng.
Ở Tây Tạng chúng tôi du lịch rất nhiều bằng việc du hồn (astral projection) – không phảI là bằng khinh công – và toàn bộ quá trình đó là trong sự điều khiển của chúng tôi. Linh hồn được làm cho rờI khỏi thân xác, dù là nó vẫn nối vào thân xác thông qua một sợI dây bạc. Một ngườI có thể đi du lịch đến bất kì nơi nào mà ngườI đó muốn, nhanh như là tốc độ người đó đang suy nghĩ. Hầu hết ai cũng có khả năng du hồn. Rất nhiều ngườI thực sự đã thoát đi được, và vì không được huấn luyện, đã trải qua một sự sửng sốt. Có lẽ là ai cũng đã trải qua cảm giác trôi vào giấc ngủ và sau đó, với không một lý do rõ ràng, bị đánh thức một cách thô bạo bởi một cú giật mạnh đột ngột. Điều đó bị gây ra do sự thoát đi quá nhanh của linh hồn, một sự tách rời không được nhẹ nhàng của thân xác và cơ thể astral. Điều đó gây nên sự co rút của sợi dây bạc, và cơ thể astral bị chộp lấy trở ngược lại vào trong thân xác. Đó là một cảm giác tệ hơn khi mà người đã đi du lịch xong và đang quay trở lại. Cơ thể astral đang lơ lửng nhiều mét phía trên thân xác, giống như là một quả bóng ở đầu cuối của một sợI dây. Một cái gì đó, có lẽ là những tiếng động ở bên ngoài, làm cho cơ thể astral quay lạI thân xác vớI tốc độ nhanh quá đáng. Cơ thể đột nhiên thức tỉnh, và có một cảm giác kinh hoàng như là một ngườI đã rơi khỏi một vách đá và thức dậy kịp lúc.
Việc du lịch trong thể astral, dướI sự điều khiển của ngườI đó, và khi hoàn toàn tỉnh thức, có thể đạt được bởI hầu hết mọI người. Điều đó cần thực tập, nhưng trên tất cả hết, trong những giai đoạn đầu tiên, nó đòi hỏI sự riêng tư, nơi mà ngườI đó có thể ở một mình mà không sợ bị quấy rầy. Đây không phải là một cuốn sách dạy về siêu hình, do đó chẳng có nghĩa lý gì để đưa ra những hướng dẫn về việc du hồn, nhưng điều được nhấn mạnh là nó có thể là một kinh nghiệm đầy xáo động ngoạI trừ ngườI đó có một ngườI hướng dẫn thích hợp. Không có nguy hiểm thật sự, nhưng có một nguy cơ về những shock và những xáo động về tình cảm nếu như cơ thể astral được cho phép rời đi và quay về thân xác không cùng nhịp hoặc không cùng khớp. Những ngườI yếu tim không bao giờ nên thực tập việc du hồn. Trong khi không có sự nguy hiểm trong việc du hồn, có một nguy hiểm rất lớn — đốI với những người bị yếu tim — nếu như một ngườI khác đi vào phòng và quấy rầy thân xác hoặc sợi dây bạc. Kết quả của việc đường đột đó có thể làm nguy đến tính mạng, và điều này sẽ thật sự rất là bất tiện cho một linh hồn phải được tái sinh để trảI qua xong một kiếp sống đó trước khi có thể tiến hoá lên giai đoạn kế tiếp.
Chúng tôi những ngườI Tây Tạng tin rằng tất cả mọI ngườI trước sự Sa Ngã của Con NgườI đều có khả năng du lịch trong dạng astral, thấy được những sự siêu hình, có thể trao đổI bằng thần giao cách cảm, và có khả năng khinh công. Phiên bản của chúng tôi về Sự Sa Ngã đó là Con NgườI đã lạm dụng những quyền lực huyền bí và sử dụng chúng cho những mục đích ích kỉ thay vì cho sự phát triển của toàn thể nhân loại. Trong những năm tháng xa xưa nhất con ngườI có thể đốI thoạI vớI con ngườI bằng thần giao cách cảm. Những bộ tộc địa phương đã có những tiếng nói riêng mà họ sử dụng chúng chỉ giữa những người trong bọn họ. Tiếng nói bằng thần giao cách cảm đương nhiên là bởi ý nghĩ, và có thể được hiểu bởI tất cả mọI ngườI, bất kể ngôn ngữ địa phương. Khi sức mạnh thần giao cách cảm đã bị mất, qua sự lạm dụng, có một – Babel !
Chúng tôi không có ngày “Sabbath” : những ngày tương ứng của chúng tôi là những “Ngày Lễ” và được theo dõi vào ngày mồng tám và mườI lăm của mỗI tháng. Sau đó là có những buổI lễ đặc biệt và có những ngày được xem như là thiêng liêng và không một công việc được làm một cách bình thường vào những ngày đó. Những dịp lễ hàng năm của chúng tôi, như là tôi được ngườI ta bảo, là tương ứng một cách nào đó với những lễ của Thiên Chúa Giáo, nhưng kiến thức của tôi về những việc kể sau khá là không đầy đủ để đưa ra những lờI bình luận. Những ngày lễ của chúng tôi là:
Tháng đầu tiên, tháng này tương ứng vớI khoảng Tháng Hai của Tây Lịch, từ ngày một đến ngày ba chúng tôi ăn mừng Logsar. Điều này, trong thế giớI Tây Phương, sẽ được gọI là Năm Mới. Đó là một dịp lớn cho những trò chơi cũng như là những nghi lễ tôn giáo. Lễ lớn nhất của chúng tôi trong cả năm được tổ chức từ ngày mồng bốn đến ngày mườI lăm, những ngày này được gọI là “Những ngày Thỉnh Cầu”. Tên của chúng tôi gọI chúng là Mon-lam. Lễ này thật sự là lễ nổI bật nhất của năm tôn giáo và thế tục. Vào ngày thứ mườI lăm cũng của tháng đó chúng tôi có Lễ Phật đản. Đây không phảI là dịp để vui chơi, nhưng là dịp để long trọng tạ ơn. Để hoàn thành tháng này, chúng tôi có, vào ngày thứ hai mươi bảy, một lễ mừng một phần mang tính tôn giáo, một phần mang tính thần thoại.
………………………….
Một phần của niềm tin của chúng tôi là những việc có khả năng xảy ra trong tương lai có thể dự đoán trước được. ĐốI vớI chúng tôi, sự tiên tri, bằng bất kì phương tiện nào, là một khoa học và khá chính xác. Chúng tôi tin vào thuật chiêm tinh. ĐốI vớI chúng tôi “những ảnh hưởng tử vi” chỉ đơn thuần là những tia vũ trụ được “tô màu” hoặc được thay đổI đi bởI bản tính của cơ thể của ngườI đang phản chiếu chúng lên Trái Đất. MọI ngườI sẽ đồng ý là một ngườI có thể có một máy chụp hình, một đèn vớI ánh sáng trắng và chụp ảnh của một vật thể nào đó. Bằng cách đặt các bộ lọc khác nhau trên ống kính của máy chụp hình — hoặc là trên ánh đèn – chúng ta có thể sắp xếp cho một số hiệu ứng nào đó trên bức ảnh cuốI cùng. Chúng ta có thể có chính sắc, toàn sắc, hay là những hiệu ứng hồng ngoạI, chỉ kể ra ba trong số một số lớn các hiệu ứng khác. Con ngườI cũng bị ảnh hưởng trong một cách tương tự bởi những bức xạ vũ trụ ảnh hưởng đến nhân cách hoá chất (chemical personality) và nhân cách điện (electrical personality) của chính họ.
Buddha đã dạy: ”Thuật chiêm tinh và đoán tử vi, dự đoán trước những sự kiện may mắn hay không may mắn bởI những điềm báo trước, tiên đoán trước điều tốt hoặc xấu, những điều này là nghiêm cấm.” Nhưng, một Sắc Lệnh trong một trong những Cuốn sách Thiêng liêng của chúng tôi nói rằng: ”Quyền năng đó được ban cho một số ngườI bởI tự nhiên, và bởI vì những quyền năng đó mà cá nhân đó sẽ chịu đựng nhiều đau khổ và bất hạnh, mà do đó có thể được sử dụng. Không một quyền năng nào thuộc về tâm linh được sử dụng cho lợI ích cá nhân, cho những tham vọng trần thế, hay là sử dụng như là minh chứng của sự hiện hữu thật sự của những quyền năng đó. Chỉ có như vậy mà những ngườI ít tài năng hơn sẽ được bảo vệ.” Sự đạt đến được Con mắt Thứ ba của tôi đã rất đau đớn, và nó đã tăng sức mạnh mà tôi đã có sẵn từ lúc sinh ra. Nhưng trong một chương sau tôi sẽ quay lạI Sự Mở của Con mắt Thứ ba. Đây là một chỗ tốt để đề cập đến nhiều hơn về thuật chiêm tinh, và kể ra đây tên của ba ngườI Anh kiệt xuất đã nhìn thấy những tiên tri suy từ thuật chiêm tinh mà đã trở thành sự thật.
Từ năm 1027 tất cả các quyết định quan trọng ở Tây Tạng đều được quyết định vớI sự giúp đỡ của thuật chiêm tinh. Sự xâm lăng của nước chúng tôi bởI ngườI Anh vào năm 1904 đã được báo trước một cách chính xác. Trên trang kế tiếp là một lờI tiên tri thực sự trong tiếng Tây Tạng. Nó đọc rằng: “Vào Năm của Rồng Gỗ. Phần đầu của năm đó bảo vệ Đức Dalai Lama, sau đó những kẻ cắp hiếu chiến và hỗn loạn sẽ đến. Sẽ có rất nhiều kẻ thù, những đau khổ hỗn loạn gây ra bởI vũ khí sẽ nổI lên, và người dân sẽ chiến đấu. Vào cuốI của năm đó một ngườI hoà giảI sẽ kết thúc cuộc chiến tranh đó.” Điều đó đã được viết ra từ trước những năm 1850, và liên quan đến năm 1904, là “năm của Rồng Gỗ”. ĐạI tá Younghusband đã là ngườI cầm đầu lực lượng của Quân đội Anh. Ông ta đã thấy Lời Tiên Tri tại Lhasa. Và ông L.A. Waddell, cũng trực thuộc quân đội Anh, cũng đã thấy Lời Tiên Tri trong bản in vào năm 1902. Ông Charles Bell, người mà sau đó đã đi đến Lhasa, cũng đã nhìn thấy nó. Một số sự kiện khác cũng đã được dự đoán một cách chính xác là: 1910, Sự xâm lăng Tây Tạng của quân đội Trung Quốc; 1911, Cách mạng Trung Quốc và sự thành lập của Nhà nước Quốc gia; cuốI năm 1911, quân Trung Quốc bị đuổi khỏI Tây Tạng; 1914, chiến tranh giữa nước Anh và nước Đức; 1933, sự qua đờI của vị Dalai Lama (nghĩa là vị Dalai Lama thứ 13 – vị Dalai Lama của thờI hiện tạI là vị Dalai thứ 14 – người dịch); 1935, sự trở lạI của một sự Tái Sinh mớI của vị Dalai Lama; 1950,”Những lực lượng ma quỷ sẽ xâm lăng Tây Tạng”. Quân độI cộng sản đã xâm lăng Tây Tạng vào Tháng MườI năm 1950. Ông Bell, sau này trở thành Sir Charles Bell, đã nhìn thấy những lờI tiên tri này tạI Lhasa. Trong trường của riêng tôi, tất cả được tiên đoán trước về tôi đã trở thành sự thật. Đặc biệt là những sự khó khăn.
Môn khoa học — đó thực sự là một khoa học — của việc chuẩn bị một lá số tử vi không phảI là một thứ có thể được thảo luận chỉ trong một vài trang của một cuốn sách như thế này. Nói tóm tắt, nó bao gồm sự chuẩn bị một bản đồ của các ngôi sao chính xác vào thờI điểm của sự thụ thai và vào thờI điểm sinh ra đời. Giờ chính xác của sự ra đờI phảI được biết, và thờI gian đó phảI được chuyển đổI sang “thờI gian thiên văn”, mà nó khá là khác biệt vớI tất cả các múi giờ trên thế giới. BởI vì tốc độ của Trái Đất trên quỹ đạo của nó là khoảng mười chín dặm một giây, điều có thể thấy rằng là những sự không chính xác sẽ tạo nên một sự khác biệt rất lớn. TạI đường xích đạo đạo tốc độ quay của Trái Đất là vào khoảng một ngàn bốn mươi dặm một giờ. Thế giớI lạI bị nghiêng đi trong khi đang quay, và Cực Bắc thì vào khoảng ba ngàn một trăm dặm đi trước so vớI Cực Nam trong mùa thu, nhưng trong mùa xuân thì vị trí đó được đảo ngược lại. Kinh độ của nơi sinh do đó là hết sức quan trọng.
Khi những bản đồ (của các ngôi sao) đó đã được chuẩn bị xong, những ngườI vớI những huấn luyện cần thiết có thể diễn giảI ý nghĩa của chúng. Sự tương quan của mỗI và tất cả các hành tinh phảI được ước tính, và hiệu ứng trên từng bản đồ sao phảI được tính toán. Chúng tôi chuẩn bị một Sơ đồ Lúc Thụ Thai để biết đến những ảnh hưởng của các lực thiên văn trong những giây phút hết sức đầu tiên của sự tồn tạI của một con người. Bản Đồ Lúc Hạ Sinh sẽ chỉ ra được những ảnh hưởng của các lực và đúng lúc cá nhân đó đi vào một thế giớI không ngờ vực. Để biết đến tương lai – chúng tôi chuẩn bị một bản đồ vào thờI điểm mà số phận của ngườI đó muốn được đọc, và so sánh nó vớI Sơ Đồ Lúc Sinh Ra. Một số ngườI có thể nói: “Nhưng liệu là ông có thực sự đoán được là ai sẽ thắng trận đấu vào lúc 2:30 ?“ Câu trả lờI là không! Không thể đoán được nếu không nắm bắt được tất cả các lá số tử vi của tất cả các ngườI đàn ông, tất cả các con ngựa, và các chủ ngựa liên quan đến trận đua. Nhắm mắt và ghim một cái đinh vào danh sách lúc bắt đầu cuộc đua là phương cách tốt nhất ở đây. Chúng tôi có thể đoán được liệu là một ngườI sẽ có bình phục từ một cơn bệnh nặng hay không, hoặc liệu là Tom sẽ có cướI Mary và sống hạnh phúc mãi mãi sau đó, những đó là liên quan đến từng cá nhân một. Chúng tôi cũng có thể nói rằng nếu nước Anh và nước Mỹ không kiểm soát khối Cộng sản, một cuộc chiến tranh sẽ bắt đầu vào Năm của Con Rồng Gỗ, mà trong chu kì này, nghĩa là năm 1964. Và sau đó trong trường hợp đó, vào lúc cuốI của thế kỉ, sẽ có một buổi trình diễn pháo hoa tưng bừng để giảI trí cho những quan sát viên từ sao Hoả hay là sao Kim. Đó là giả sử như là khốI Cộng sản không được kiểm soát.
Một điểm xa hơn mà nó thường làm bối rối nhiều người phương Tây là câu hỏi về việc truy ngược lại những kiếp sống trước đó của một người. Những người không có kỹ năng về việc này nói rằng điều đó là không thể làm được, cũng chỉ giống như là một ngườI đàn ông điếc hoàn toàn có thể nói rằng:”Tôi không nghe một âm thanh nào cả, do đó âm thanh là không tồn tại.” Lần ngược trở lạI những kiếp sống trước của một ngườI là hoàn toàn làm được. Điều đó mất nhiều thờI gian, đa số là phác thảo ra được những sơ đồ và những tính toán. Một ngườI có thể đứng tạI một sân bay và đang tự hỏI về những thông báo cuốI cùng về những máy bay vừa mớI đến. Một ngườI đứng xem có thể phỏng đoán, nhưng nhân viên của tháp điều khiển, vớI những kiến thức chuyên ngành của họ có thể nói . Nếu như một ngườI đứng nhìn có một danh sách các số hiệu của các máy bay được đăng ký, và một bảng thời gian đầy đủ, anh ta có thể có khả năng tự tìm ra cổng ghé mà máy bay đã đáp xuống. Chúng tôi cũng có khả năng tương tự như vậy vớI việc truy ngược những kiếp sống trước. Phải cần đến cả một cuốn sách đầy đủ ít nhất là để làm sáng rõ quá trình tiến hành và do vậy bây giờ là vô ích để đi sâu thêm nữa về vấn đề đó. Có lẽ điều đáng quan tâm là nói về những điểm mà thuật chiêm tinh của ngườI Tây Tạng bao hàm. Chúng tôi sử dụng mườI chín kí hiệu trong mườI hai Cung của Chiêm Tinh. Những kí hiệu đó chỉ ra được:
• Tính cách và sở thích cá nhân;
• Tài chính, làm thế nào mà một ngườI có thể kiếm hay mất tiền;
• Những mốI quan hệ; những chuyến đi ngắn, khả năng về trí óc và khả năng viết văn;
• Tài sản và những điều kiện lúc cuốI đờI;
• Con cái, niềm vui và sự suy đoán;
• Bệnh tật, công việc, và những con gia súc nhỏ;
• Tình duyên, cướI hỏI, kẻ thù và những kiện cáo;
• Tài sản kế thừa;
• Những chuyến đi dài và những vấn đề về tâm linh;
• Nghề nghiệp và danh dự;
• Tình bạn và những tham vọng;
• Những rủI ro, sự giam giữ, và những nỗI đau buồn về tâm linh.
Chúng tôi cũng có thể dự báo thờI gian một cách xấp xỉ, hoặc là dướI những điều kiện nào, những việc sau đây sẽ xảy ra:
• Tình yêu, kiểu ngườI và thờI gian gặp gỡ;
• CướI hỏI, khi nào xảy ra, và sau đó sẽ như thế nào;
• Những tình cảm mạnh mẽ, thuộc loạI “giận dữ”;
• Tai nạn, và nó sẽ diễn ra như thế nào, hay là nếu nó xảy ra;
• Vận mệnh;
• Cái chết, khi nào và như thế nào;
• Tù tộI; hoặc là những dạng giam giữ khác;
• Bất hoà hợp; thường là gia đình hay những cãi vã làm ăn;
• Tâm linh, giai đoạn tiến hoá đã đạt đến.
Mặc dù là tôi thực hành chiêm tinh thuật rất nhiều, tôi tìm thấy rằng hình học tâm linh (psychometry) và “bói bằng quả cầu thạch anh” nhanh hơn mà không giảm sự chính xác đi một tý nào. Điều này cũng dễ dàng hơn khi mà ngườI đó không khá về việc nhớ các hình ảnh! Hình học tâm linh là một nghệ thuật thu nhặt những ấn tượng mờ nhạt của những sự kiện đã trảI qua từ một món đồ nào đó. Tất cả mọI ngườI đều có khả năng này không ít thì nhiều. NgườI ta đi vào một nhà thờ hay ngôi đền cổ kính, thiêng liêng trảI qua trong nhiều năm, và sẽ nói:”Thật là một không khí bình yên, dễ chịu!” Nhưng cũng những ngườI đó sẽ đi thăm một nơi vừa xảy ra một án mạng khủng khiếp và thốt lên rằng: ” Ô! Tôi không thích chỗ này, nó ma quái thế nào, hãy đi chỗ khác.”
Nhìn vào quả cầu thạch anh hơi khác ở một mức độ nào đó. Quả cầu thạch anh – như là tôi đã đề cập trước đó — chỉ đơn giản là một thiết bị hộI tụ những tia đi ra từ Con Mắt Thứ ba cũng giống như là những tia X được đưa đi hộI tụ lên một màn hình, và cho thấy một bức ảnh huỳnh quang. Không có gì liên quan đến ảo thuật cả, điều này chỉ đơn giản là việc sử dụng các luật tự nhiên.
Ở Tây Tạng chúng tôi có những đài kỷ niệm “những luật tự nhiên”. Những đài tưởng niệm của chúng tôi, mà chúng có nhiều kích thước cao từ năm feet đến năm mươi feet, là những biểu tượng có thể so sánh vớI thánh giá, hoặc là những tượng thánh. Trên bản đồ phác hoạ Lhasa có năm cái được vẽ, Pargo Kaling là cái lớn nhất, và là một trong các cổng của thành phố. Những tượng luôn luôn có hình dạng như là được vẽ trong bức tranh phác hoạ. Nền vuông là biểu tượng nền vững chắc của Trái Đất. Trên đó là Quả Cầu Nước, phủ bên trên đó là Hình nón Lửa. Trên đó nữa là Đĩa Không Khí, và cao hơn nữa, là Linh hồn (Ether) đang lượn sóng chuẩn bị rời bỏ thế giớI vật chất. MỗI thành phần được đạt đến thông qua những Bước Trau dồI Học vấn. Toàn bộ là tượng trưng cho niềm tin của ngườI Tây Tạng. Chúng ta đến Trái Đất khi chúng ta ra đời. Trong suốt cuộc đờI chúng ta trèo lên cao, và cố gắng, bằng con đường Trau dồI Học vấn. CuốI cùng, khi hơi thở của chúng ta ngưng, chúng ta bước vào cõi tâm linh. Sau đó, sau một khoảng thờI gian khác nhau, chúng ta lạI tái sinh, để học một bài học khác. Bánh Xe Luân HồI tượng trưng cho vòng quay vô hạn của sinh ra – sống – chết – trở thành linh hồn – sinh ra – chết đi, và cứ như thế. Rất nhiều học sinh nóng vộI đã phạm phảI những sai lầm lớn khi nghĩ rằng là chúng tôi tin vào những cảnh địa ngục khủng khiếp một đôi khi được minh hoạ trên Bánh Xe Luân Hồi. Một vài ngườI không biết chữ thô bạo có thể tin vào đó, nhưng không phảI là những ngườI đã nhận được sự khai sáng. Liệu là những ngườI theo Đạo Thiên Chúa thực sự tin rằng khi họ chết Quỷ Satan và đồng sự sẽ bận rộn vớI việc nghiền nát và quay nướng? Liệu là họ có tin là nếu như họ đi đến một Nơi Khác (là một trong thiểu số!) họ ngồI trên mây trong áo dạ hộI đêm và học cách chơi đàn harp? Chúng tôi tin rằng chúng ta học tập trên Trái Đất, và chính là trên Trái Đất chúng ta bị “nghiền nát và quay nướng”. Nơi Khác, đốI vớI chúng tôi, là nơi mà chúng ta đi đến khi chúng ta ra khỏI thể xác, nơi mà chúng ta có thể gặp những linh hồn khác mà cũng đã ra khỏI thể xác. Điều này không phảI là học thuyết duy linh. Thay vào đó là một niềm tin rằng trong suốt giấc ngủ, hoặc sau khi chết, chúng ta tự do đi chu du trong những tầng astral. Từ ngữ riêng của chúng tôi cho những tầng cao hơn của những tầng astral này là “Vùng Đất của Ánh Sáng Bằng Vàng”. Chúng tôi tin chắc rằng là khi chúng ta trong tầng astral, sau khi chết, hoặc là trong giấc ngủ, chúng ta chỉ có thể gặp những ngườI mà chúng ta yêu thích, bởI vì chúng ta hoà hợp vớI họ. Chúng ta không thể nào gặp những ngườI mà chúng ta không thích, bởI vì đó sẽ là một trạng thái bất hoà, và những điều kiện như vậy không thể nào tồn tạI trong Vùng Đất của Ánh Sáng Bằng Vàng.
Tất cả những điều này sẽ được chứng minh qua thờI gian, và có vẻ như là một điều đáng tiếc là những nghi ngờ của ngườI phương Tây và chủ nghĩa vật chất đã ngăn chặn Khoa học này được nghiên cứu một cách thích hợp. Rất nhiều thứ đã bị nhạo báng trong quá khứ, và sau đó được chứng minh là đúng đắn sau khi nhiều năm đã trôi qua. Điện thoại, máy phát thanh, máy truyền hình, máy bay, và rất nhiều thứ khác.
http://www.skidmore.edu/academics/asianstudies/TibetanPhotos/3chortens.jpg
Filed under: The Third Eye
Chương 9
TạI Hàng rào Hoa hồng dại
Trong buổI sáng ngày hôm sau chúng tôi chuẩn bị một cách thoảI mái để quay trở lạI Chakpori. ĐốI vớI chúng tôi chuyến đi thăm điện Potala khá giống như là một kì nghỉ. Trước khi rờI khỏI tôi chạy vộI lên mái nhà để có một cái nhìn cuốI cùng về những vùng đồng quê thông qua kính viễn vọng. Trên một mái nhà của Chakpori một thầy tăng nhỏ đang nằm trên ngả trên lưng đọc sách, và thỉnh thoảng thảy những hạt sỏI nhỏ lên những mái đầu trọc trên sân. Thông qua ống kính tôi có thể thấy nụ cườI tinh quái trên mặt của anh ta khi anh ta nấp vào khỏI tầm mắt của những nhà sư bốI rốI ở bên dưới. Điều này làm cho tôi cảm thấy không dễ chịu một cách sâu sắc khi nhận ra rằng Đức Dalai Lama đã không nghi ngờ gì nữa có thể thấy được tôi làm những trò giống như vậy. Trong tương lai, tôi tự nhủ, tôi sẽ giớI hạn những cố gắng của mình trong góc cạnh của những toà nhà khuất mắt khỏI điện Potala.
Nhưng bây giờ là thờI gian để rờI xa. ThờI gian để nói những lờI cám ơn đến những vị lama đã làm việc để làm cho sự lưu lạI ngắn ngủI của chúng tôi rất dễ chịu. Cũng là thờI gian để bày tỏ sự tử tế đặc biệt đến ngườI quản gia riêng của Đức Dalai Lama. Ông ta đã đãi chúng tôi “những thức ăn từ Ấn Độ”. Tôi chắc hẳn đã làm ông ta hài lòng, bởI vì ông ta đã làm cho tôi một món quà tạm biệt mà tôi đã không chậm trong việc ăn nó. Sau đó, sau khi trở nên vững vàng, chúng tôi bắt đầu đi xuống từng bậc trên đường quay trở lạI Núi Sắt. Khi chúng tôi đạt đến nửa đường chúng tôi nghe thấy những tiếng hò la và những tiếng gọI, và những nhà sư đi ngang chỉ về sau lưng, đằng sau chúng tôi. Chúng tôi dừng lạI, và một nhà sư thở không ra hơi chạy vộI xuống dướI và hổn hển thốt ra một lờI gọI vị Lama Mingyar Dondup. NgườI Hướng dẫn tôi dừng lại.
“Hãy chờ ta ở nơi đây, Lobsang, ta sẽ không đi quá lâu.” VớI điều đó ông ta quay lạI và bước lên những bậc thang một lần nữa. Tôi thả bộ xung quanh đó, ngưỡng mộ khung cảnh, và nhìn về phía nhà cũ của tôi. Suy nghĩ về điều đó, tôi quay lạI, và gần như là ngã về phía sau khi tôi thấy cha tôi đang cưỡI ngựa về phía tôi. Khi tôi nhìn thấy ông ta ông ta nhìn về phía tôi và hàm dướI của ông ta hạ xuống một chút như thể là ông ta nhận ra tôi. Sau đó, vớI nỗI đau không thể thốt ra được của tôi, ông ta lờ tôi đi, và tiếp tục cưỡI đi. Tôi nhìn theo cái lưng của ông ta đang đi xa dần và gọI “Cha!” Ông ta đã không chú ý một thứ gì cả, mà cứ tiếp tục cưỡI ngựa đi một cách đều đặn. Hai mắt tôi cảm thấy nóng bỏng, tôi bắt đầu cảm thấy run run, và tôi nghĩ rằng tôi sẽ tự làm hạ mình giữa công chúng, trên những bậc thang của Potala của tất cả mọI nơi. VớI sự tự chủ nhiều hơn là tôi nghĩ tôi có được tôi đứng thẳng lưng và nhìn ra toàn bộ khung cảnh Lhasa.
Sau khoảng nửa giờ thì Lama Mingyar Dondup đi đến cưỡI ngựa xuống những bậc thang và dẫn theo một con ngựa nữa.
“Hãy nhảy lên, Lobsang, chúng ta phảI đi đến Sera trong vộI vã, một trong những vị hoà thượng viện chủ nơi đó đã bị một tai nạn nguy kịch.”
Tôi thấy nơi đó có một cái túi hình hộp buộc vào mỗI yên ngựa, và đoán rằng đó là những trang thiết bị của NgườI Hướng dẫn của tôi. Dọc theo đường Lingkhor chúng tôi phi nước đại, đi qua khỏI căn nhà cũ của tôi, đi qua những đám đông rảI rác của các tín đồ cũng như là những kẻ ăn mày. Không quá lâu sau chúng tôi đã đến Tu viện Sera, nơi mà những nhà sư đang chờ đón chúng tôi. Chúng tôi nhảy khỏI yên ngựa, mỗI ngườI đem theo một cái túi, và một vị hoà thượng dẫn chúng tôi đến nơi mà một nhà sư già đang nằm ngả lưng.
Mặt của ông ta đã ngả sang màu chì, và lực sống dường như đang lung linh đến mức như ngừng hẳn. Vị Lama Mingyar Dondup gọI một chậu nước nóng, mà nó đã sẵn sàng, và ông ta bỏ vào đó một số dược thảo nào đó. Khi tôi đang khuấy thứ này, vị Lama khám nghiệm nhà sư già, ngườI đã bị vỡ hộp sọ do kết quả của việc ngã xuống. Một miếng xương bị dẹp và đang gây nên những sức ép lên não bộ. Khi chất lỏng đã đủ nguộI đi chúng tôi lau chùi đầu của ông ta vớI thứ đó, và NgườI Hướng dẫn tôi rửa tay của ông ta vớI một ít chất lỏng đó. Lấy ra một cái dao nhọn từ cái túi hình hộp, một cách nhanh chóng ông ta cắt một đường hình chữ U xuyên qua da thịt, ngay vào trong xương. Có một chút ít máu chảy ra, nhưng dược thảo đã chặn đứng nó lại. Nhiều thứ thứ thuốc xức bằng dược thảo được quét lên, và một mảnh thịt được lấy ra và làm sạch khỏI xương. Rất, rất nhẹ nhàng vị Lama Mingyar Dondup khám nghiệm khu vực đó và tìm ra nơi mà xương sọ đã bị vỡ vào bên trong và đang bị treo phía dướI mức bình thường của hộp sọ. Ông ta đã đặt rất nhiều thứ dụng cụ vào trong một cái chén của những thứ thuốc khử trùng trước khi bắt đầu, bây giờ ông lấy ra từ cái chén hai thanh bằng bạc, một đầu dẹp, và có nhiều đường răng cưa trong phần phẳng. VớI một sự cẩn thận cực kì cao độ ông ta chèn cạnh mỏng nhất vào trong mảnh vỡ rộng nhất của xương và cầm nó một cách chắc chắn trong khi ông ta nắm một cách chặt hơn mảnh xương vớI cái thanh còn lại. Nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng, ông ta bẫy vạt xương để nó chỉ hơi một chút bên trên mức bình thường. Ông chêm nó ở đó vớI một thanh và nói:”Bây giờ hãy đưa cho ta cái chén, Lobsang.” Tôi cầm nó lên để ông ta có thể lấy bất kì thứ gì mà ông muốn, và ông lấy ra một cái que nhọn nhỏ bằng bạc, chỉ một đầu nhỏ như cái nêm hình tam giác. VớI thứ này ông nhấn vào khe hở giữa xương sọ bình thường và mảnh bị vỡ, mà bây giờ đã hơi bên trên mức bình thường. Một cách chậm chạp ông ta đẩy cái xương một chút. Nó di chuyển một ít, và ông đẩy nó chỉ thêm một tí. Mặt xương bây giờ trở nên bình thường. “Nó sẽ đan lạI vớI nhau, và thanh bạc, bởI vì là một kim loạI trơ, sẽ không gây ra ảnh hưởng gì cả.” Ông lau khu vực đó vớI nhiều thuốc xức dược thảo hơn, và cẩn thận đặt vạt da thịt đã bị để cho nốI vào chỉ bằng một bên. VớI những sợI lông đã được đun sôi từ đuôi một con ngựa ông khâu mảnh thịt lạI, và che đậy lên trên vùng phẫu thuật vớI một miếng dán bằng dược thảo cột vào chỗ đó vớI vảI đã được đun sôi.
Lực sống của vị hoà thượng già đã trở nên mạnh hơn từ khi sức ép đã được giảm đi từ não bộ của ông ta. Chúng tôi dựng ông ta dậy vớI những cái gốI để ông ta ở trong tư thế nửa ngồi. Tôi lau rửa những dụng cụ trong những hỗn hợp thuốc đun sôi mớI, làm khô chúng trên vảI đã được đun sôi và gói mọI thứ lạI một cách cẩn thận vào trong cái túi hộp. Khi tôi đang rửa tay sau đó, đôi mắt của nhà sư già hé mở, và ông ta mỉm cườI yếu ớt khi ông thấy Lama Mingyar Dondup đang cúi ngườI xuống trên ông ta.
“Tôi biết rằng chỉ có anh mớI có thể cứu sống được tôi, đó là tạI sao tôi gửI lờI nhắn bằng thần giao cách cảm đến tận Đỉnh. Nhiệm vụ của tôi chưa được hoàn thành và tôi chưa sẵn sàng trong việc rờI khỏI thân xác.”
NgườI Hướng dẫn tôi nhìn về ông ta một cách cẩn thận và trả lờI:” Ông sẽ bình phục khỏI điều này. Chỉ một vài ngày cảm thấy cảm thấy khó chịu, một lần nhức đầu hay là hai lần, và khi tất cả những thứ đó đã qua đi ông có thể đi xung quanh để làm những công việc của mình. Trong một vài ngày ông phảI có một ai đó bên cạnh ông khi ông ngủ, để ông không nằm thẳng ra. Sau ba hay bốn ngày ông sẽ không có điều gì phảI lo lắng cả.”
Tôi đã đi đến cửa sổ và đang nhìn ra ngoài. Một điều khá là thú vị khi thấy những điều kiện trong một tu viện khác. Vị Lama Mingyar Dondup đến chỗ tôi và nói:”Con đã giúp ta khá tốt, sau này, Lobsang, chúng ta nên thành một đội. Bây giờ ta muốn đưa con đi xem vòng quanh cộng đồng này, nó rất là khác so vớI của chúng ta.”
Chúng tôi để lạI vị hoà thượng già trong sự chăm sóc của một vị lama, và đi ra vào trong một hành lang. Nơi này không được sạch sẽ như là tạI Chakpori, và cũng có vẻ không có những kỉ luật chặt chẽ. Những nhà sư có vẻ đến và đi tuỳ theo ý thích. Những đền thờ không được săn sóc, so sánh vớI những đền thờ của chúng tôi, và ngay cả nhang khói cũng cay hơn. Những đám đông những đứa trẻ đang chơi trong sân — tạI Chakpori chúng sẽ phảI chăm chỉ làm việc. Những bánh xe cầu nguyện trong nhiều đa số chỗ là không ai xoay. Đây đó có một nhà sư già ngồI và quay những Bánh Xe, nhưng không có sự trật tự, sự sạch sẽ, và kỉ luật mà tôi đã làm quen và lấy đó như là một thước đo trung bình. NgườI Hướng dẫn tôi nói:”Thế đó, Lobsang, con có muốn ở lạI đây và có đờI sống dễ dàng của họ?”
“Không, con sẽ không, con nghĩ rằng họ là những ngườI nguyên thủy ở nơi này,” tôi nói.
Ông ta cườI lớn. “Bảy ngàn ngườI bọn họ! Điều luôn xảy ra là chỉ một số ngườI ồn ào là đem đến cho số đông im lặng tai tiếng xấu.”
“Điều đó có thể đúng,” tôi trả lờI, “nhưng mặc dù họ gọI nơi này là Hàng Rào Hoa Hồng, đó là không phảI là cái mà con sẽ gọI nơi này.”
Ông ta nhìn tôi vớI một cái mỉm cườI: “Ta tin là con sẽ bắt đầu công việc của sự thiết lập lạI kỉ luật ở nơi này chỉ bằng sức của một mình con.”
Điều thực sự là tu viện của chúng tôi có kỉ luật chặt chẽ nhất, đa số các nơi khác thực sự là khá thoảI mái, và khi những nhà sư muốn lười biếng, thế là, họ chỉ lườI biếng và không ai nói gì về điều đó cả. Sera, hay là Hàng Rào Hoa Hồng DạI như là nơi này thực sự được gọI tên, cách ba dặm từ điện Potala và là một trong những tu viện được biết đến như là “Ba Chỗ NgồI”. Drebung là cái lớn nhất trong ba cái, vớI không dướI mườI ngàn nhà sư. Sera đến sau theo thứ tự của sự quan trọng vớI khoảng bảy ngàn năm trăm nhà sư, trong khi Ganden là cái ít quan trọng nhất vớI chỉ khoảng một ngàn nhà sư. MỗI nơi giống như là một thành phố đầy đủ vớI những đường phố, trường học, đền thờ, và những toà nhà thường thấy để tạo thành một thành phố. Những đường phố này được đi tuần bởI những ngườI đàn ông xứ Kham. Bây giờ, không nghi ngờ gì nữa, chúng đang được tuần tra bởI những ngườI lính cộng sản! Chakpori là một cộng đồng nhỏ, như là một cộng đồng quan trọng. Như là Đền Thờ của Y Học, nó được xem như là “Chỗ ngồI của Sự học tập về Ngành Y” và được đạI diện đầy đủ trong HộI Đồng của nhà nước.
TạI Chakpori chúng tôi được dạy những thứ mà tôi sẽ gọI là “judo”. Đây là từ tiếng Anh gần nhất mà tôi có thể tìm ra, diễn giảI của từ Tây Tạng sung-thru kyom-pa tu de-po le-la-po không thể nào dịch được, cũng như là từ “kỹ thuật” của chúng tôi amaree. “Judo” là một dạng rất là thô sơ của hệ thống của chúng tôi. Không phảI tất cả các tu viện đều có sự huấn luyện này, nhưng chúng tôi tạI Chakpori được giảng dạy về nó để đem lạI sự tự vệ, để làm cho chúng tôi có khả năng làm ngườI khác bất tỉnh cho các mục đích về y tế, và để cho chúng tôi có khả năng du lịch một cách an toàn trong những phần gồ ghề hơn của đất nước. Như là những lama bác sỹ, chúng tôi du lịch khá là nhiều.
Lão Tzu đã là một ngườI thầy của nghệ thuật này, có lẽ là ngườI giỏI nhất về thứ này trong toàn Tây Tạng, và ông đã dạy tôi tất cả những thứ mà ông ta biết – cho sự hài lòng của chính ông ta trong việc hoàn thành một công việc tốt đẹp. Đa số những đàn ông và những chú bé biết những cú nắm và ném cơ bản, nhưng tôi đã biết các thứ đó khi tôi được bốn tuổi. Nghệ thuật này, chúng tôi tin tưởng, chỉ được sử dụng cho tự vệ và tự chủ, và không phảI là trong thể cách của một ngườI đánh để giành lấy phần thưởng. Chúng tôi có quan điểm rằng những ngườI đàn ông mạnh mẽ có khả năng mềm mỏng, trong khi những ngườI yếu và không chắc chắn hay khoe khoang và khoác lác.
Judo của chúng tôi được sử dụng để làm cho một ngườI trở nên bất tỉnh khi, chẳng hạn, đặt lạI những xương gãy, hay là khi nhổ răng. Không có sự đau đớn vớI nó, và không có sự mạo hiểm. Một ngườI có thể làm cho bị bất tỉnh trước khi anh ta nhận thức được sự bắt đầu của nó, và anh ta có thể được phục hồI lạI hoàn toàn sự tỉnh táo nhiều giờ hay vài giây sau đó mà không có hiệu ứng bệnh tật nào cả. Một điều khá là đáng để tò mò, một ngườI khi bị làm bất tỉnh khi đang nói sẽ hoàn thành câu nói đó lúc tỉnh lại. BởI vì những nguy hiểm khá hiển nhiên của hệ thống cao hơn này, thứ này và sự thôi miên “ngay tức khắc” chỉ được giảng dạy chỉ cho những ngườI có thể vượt qua những kiểm tra ngặt nghèo nhất về tư cách. Và sau đó những chặn bằng thôi miên được áp dụng để cho ngườI ta không nên lạm dụng những quyền năng được ban phát cho.
Ở Tây Tạng, một tu viện không đơn giản chỉ là một nơi mà những ngườI đàn ông có thiên hướng về tôn giáo sinh sống, nhưng mà là một thành phố đầy đủ vớI những tiện nghi và phương tiện thông thường. Chúng tôi có những nhà hát trong đó các vở kịch về tôn giáo và truyền thống được trình diễn. Những nhạc công lúc nào cũng sẵn sàng giảI trí cho chúng tôi, và chứng tỏ rằng không một cộng đồng nào khác có những ngườI chơi nhạc tốt hơn. Những nhà sư mà có tiền có khả năng mua thức ăn, áo quần, những thứ đắt tiền, và những cuốn sách trong các cửa hàng. Những ngườI muốn tiết kiệm, gửI tiền của họ vào nơi trong tu viện tương đương như là một ngân hàng. Tất cả các cộng đồng, trong bất kì nơi nào của thế giớI, đều có những ngườI vi phạm những pháp luật. Những kẻ phạm tộI ở nơi chúng tôi bị bắt giữ bởI sư công an và được đưa đến một toà án nơi họ được đưa ra xét xử một cách công bằng. Nếu như là có tộI, họ sẽ bị giam giữ theo đúng thờI hạn trong những nhà tù trong tu viện. Những trường học của nhiều loạI khác nhau được chu cấp cho mọI mức độ của trạng thái tâm lý. Những chú bé thông minh được giúp đỡ để tạo ra con đường của chúng, nhưng trong những tu viện khác ngoạI trừ Chakpori, một ngườI làm biếng được phép ngủ hay mơ mộng cho phí hết đờI của anh ta đi. Ý kiến của chúng tôi là, ngườI ta không thể gây ảnh hưởng đến cuộc đờI của một ngườI khác, do đó hãy để anh ta bắt kịp trong kiếp sống tái sinh sau đó của anh ta. TạI Chakpori mọI việc là khác, và nếu như một ngườI không có tỏ ra tiến bộ gì cả, ngườI đó bị bắt buộc phảI rờI tu viện và đi tìm nơi ẩn tránh khác nơi mà kỉ luật không được khắt khe lắm.
Những nhà sư bị bệnh của chúng tôi được điều trị rất tốt, chúng tôi có một bệnh viện trong những tu viện và những ngườI cảm thấy khó ở được điều trị bởI những nhà sư được huấn luyện về y học và những phẫu thuật cơ bản. Những trường hợp nặng nề hơn được chữa trị bởI những chuyên gia, như là Lama Mingyar Dondup. Rất thường xuyên từ khi rờI xa Tây Tạng tôi đã phảI cườI trước những câu chuyện về những ngườI Tây Tạng nghĩ rằng tim của một ngườI đàn ông là nằm bên trái, trong khi đó tim của phụ nữ là nằm bên tay phải. Chúng tôi đã nhìn thấy đủ những xác ngườI chết được mổ ra để biết được sự thật. Tôi cũng cảm thấy khôi hài về những “ngườI Tây Tạng dơ bẩn, ẩn chứa nhiều bệnh hoa liễu”. Những ngườI viết nên những câu như thế này chắc hẳn là chưa đi đến những nơi thông dụng, ở Anh và Mỹ, nơi mà những ngườI công dân địa phương được ban cho “Sự chữa chạy Miễn phí và Bảo mật”. Chúng tôi dơ bẩn; một số ngườI phụ nữ của chúng tôi, chẳng hạn, đặt những thứ lên mặt, và phảI đánh dấu vị trí của hai môi để ngườI ta không thể trượt đích. Trong nhiều lúc họ đặt những thứ lên tóc của họ để làm nó sáng bóng lên, hay là để thay màu. Họ còn nhổ cả lông mày và tô màu những móng tay, những dấu hiệu chắc chắn là những ngườI phụ nữ Tây Tạng là “dơ bẩn và hư hỏng”.
Nhưng bây giờ trở lạI cộng đồng tu viện của chúng tôi; thông thường có những ngườI khách đến thăm, họ có thể là những thương gia hay là những nhà sư. Họ được cung cấp phòng trọ trong nhà khách của tu viện. Họ cũng phảI trả tiền cho những phòng trọ đó! Không phảI tất cả các nhà sư đều sống độc thân. Một số ngườI nghĩ rằng “phúc lành đơn lẻ” không đem lạI một khung đầu óc đúng đắn cho việc tu hành. Những ngườI có khả năng tham gia vào nhóm đặc biệt của các nhà sư Mũ Đỏ là những ngườI được phép lập gia đình. Họ là thiểu số. Những nhà sư Mũ Vàng, nhóm độc thân, là giai cấp lãnh đạo trong đờI sống tôn giáo. Trong những tu viện “có gia đình”, những nhà sư và ni cô làm việc bên cạnh nhau trong một cộng đồng có trật tự, và trong nhiều lúc “không khí” nơi đó không quá là sống sượng như trong những cộng đồng chỉ toàn đàn ông.
Một số tu viện có những xưởng in riêng của họ để họ có thể in những cuốn sách của họ. Thông thường họ làm giấy riêng cho họ. Thứ kể sau không phảI là một nghề tốt cho sức khoẻ, bởI vì một dạng của vỏ cây sử dụng trong việc sản xuất giấy là cực kì độc. Trong khi điều này ngăn chặn bất kì thứ côn trùng nào tấn công vào giấy Tây Tạng, nó cũng có hiệu ứng xấu trên các nhà sư, và những ngườI làm trong những công việc này phàn nàn của những trận nhức đầu dữ dộI và nhiều thứ tệ hơn. Ở Tây Tạng chúng tôi không sử dụng khung chữ kim loại. Tất cả các trang giấy của chúng tôi được vẽ lên gỗ vớI một tính chất nhất định nào đó, và sau đó tất cả ngoạI trừ những đường vẽ được gọt khoét đi, để lạI những phần sẽ được in trồI lên cao bên trên phần còn lạI của bản in. Một số những bản in này rộng ba feet dày khoảng mườI tám inche và chi tiết sẽ khá là phức tạp. Không một bản chứa đựng một lỗI nhỏ nào được sử dụng. Những trang giấy Tây Tạng không giống như là những trang giấy của cuốn sách này, mà bề dài là dài hơn bề rộng: chúng tôi sử dụng những trang rộng và ngắn, và chúng luôn luôn không được đóng lại. Những tấm rờI khác nhau được giữ giữa những bìa gỗ được chạm trổ. Trong in ấn, những bản khắc của nộI dung của trang viết được đặt trảI ra mặt phẳng. Một nhà sư lăn một ống lăn mực lên trên toàn bộ bề mặt, cho chắc chắn là mực được trảI đều ra. Một nhà sư khác đứng lên một tấm giấy và nhanh chóng trảI nó ra trên bản, trong khi một nhà sư thứ ba đi theo vớI một trục lăn nặng để ấn tờ giấy xuống một cách triệt để. Một nhà sư thứ tư nâng tờ giấy đã được in lên và chuyền nó cho một ngườI tập sự, anh ta đẩy nó sang một bên. Có rất ít tờ giấy bị nhoè đi, những tờ này không bao giờ được sử dụng cho sách, nhưng được giữ lạI cho những ngườI tập sự để thực tập trên đó. TạI Chakpori chúng tôi có những bản gỗ được chạm trổ cao khoảng sáu feet và rộng khoảng bốn feet: những bản gỗ này có những chạm trổ của cơ thể con ngườI và nhiều bộ phận khác nhau bên trong. Từ những thứ đó chúng tôi tạo ra những sơ đồ treo trên tường, mà chúng tôi phảI tô màu. Chúng tôi cũng có những sơ đồ về thiên văn. Những sơ đồ mà dựa trên đó chúng tôi định ra số tử vi rộng vào khoảng hai feet vuông. Trên thực tế chúng là những bản đồ của các thiên đường vào thờI gian một ngườI được thụ thai và được sinh ra. Trên bản đồ trống chúng tôi chèn vào đó những thông tin mà chúng tôi tìm ra trong những bản tính toán đã được chuẩn bị trước mà chúng tôi đã in ra từ trước.
Sau khi nhìn qua Tu viện Hàng rào Hoa hồng và trong trường hợp của tôi, so sánh nó không được thuận lợI vớI của chúng tôi, chúng tôi quay lạI căn phòng để gặp lạI vị hoà thượng già. Trong suốt hai giờ mà chúng tôi đi vắng ông ta đã bình phục rất nhiều và bây giờ đã có khả năng chú ý nhiều hơn đến những đồ vật xung quanh ông ta. Đặc biệt là ông ta có khả năng chú ý đến Lama Mingyar Dondup, là ngườI mà ông ta dường như có vẻ rất quyến luyến. NgườI Hướng dẫn tôi nói, “Chúng tôi phảI rờI đi ngay bây giờ, nhưng đây là một ít dược thảo dạng bột cho ông. Tôi sẽ đưa ra đầy đủ những lờI hướng dẫn cho Vị Thầy tu túc trực khi chúng tôi rờI khỏI nơi đây.” Ba túi da nhỏ được lấy ra từ cái túi hình hộp của ông ta và được đưa cho hoà thượng già. Ba cái túi đó có ý nghĩa của sự sống, thay vì cái chết, đốI vớI ngườI đàn ông già.
TạI cổng sân chúng tôi thấy một nhà sư đang cầm hai con ngựa nhỏ nghịch ngợm đáng ghét. Chúng đã được cho ăn và được nghỉ ngơi và bây giờ rất là sẵn sàng cho việc phi nước đại. Tôi chưa sẵn sàng. May mắn cho tôi, vị Lama Mingyar Dondup khá là hài lòng để chúng tôi có thể đi một cách thong thả. Hàng rào Hoa hồng chỉ vào khoảng ba ngàn bảy trăm yard từ phần gần nhất của đường Lingkhor. Tôi không hồI hộp khi đi ngang qua nhà cũ của tôi. NgườI Hướng dẫn tôi hiển nhiên là bắt được những ý nghĩ của tôi, bởI vì ông ta nói:”Chúng ta sẽ đi băng ngang qua đường để đến Đường phố vớI nhiều Quầy hàng. Không có gì phảI vộI vã; ngày mai là một ngày mớI mà chúng ta chưa được nhìn thấy.”
Tôi rất là thích thú khi nhìn thấy các quầy hàng của những thương gia từ Trung Quốc và lắng nghe những âm thanh cao chói tai của họ khi họ cãi nhau và cò kè mặc cả về những giá cả. Chỉ đốI diện vớI lề đường mà họ đang đứng là một cái tượng đài (chorten), tượng trưng cho sự bất tử của linh hồn, và đằng sau đó là một cái bóng lờ mờ của một ngôi đền sáng lóng lánh nơi mà các nhà sư của Shede Gompa gần đó đang đi thành từng đoàn vào trong. Chỉ một vài phút cưỡI ngựa chúng tôi đã đi đến những đường nhỏ vớI những căn nhà rảI rác mà như thể là được bảo vệ dướI bóng của Jo-Kang. “Ah!” tôi nghĩ,”lần trước khi ta ở đây ta đã là một ngườI tự do, không phảI huấn luyện để trở thành một nhà sư. Mong ước rằng tất cả chỉ là một giấc mơ và tôi có thể thức dậy!” Về phía xuống dướI con đường chúng tôi đi thong thả, và rẽ sang phảI đến con đường mà nó dẫn qua khỏI Cầu Ngọc Lam. Vị Lama Mingyar Dondup quay về phía tôi và nói:”Như vậy con vẫn không muốn trở thành một nhà sư? Đó là một đờI sống khá tốt, con biết đấy. Vào cuốI tuần này đoàn thường niên sẽ đi lên những ngọn đồI để thu nhặt dược thảo. Lần này ta không muốn con đi. Thay vào đó, hãy học vớI ta để con có thể tham dự kì thi Trappa khi con được mườI hai tuổi. Ta đã hoạch định trước cho con đi theo những đoàn thám hiểm đặc biệt đến những cao nguyên để thu nhặt một số dược thảo rất hiếm. Chỉ ngay sau đó chúng tôi đã đạt đến cuốI làng Sho và đang tiến lạI gần Pargo Kaling, Cổng phía Tây của Thung lũng Lhasa. Một ngườI ăn mày co rúm ngườI lạI dựa vào bức tường: “Ho! Đức Ngài Linh Thiêng Lama về Y Dược, xin đừng chữa trị những bệnh tật của tôi nếu không thì cách kiếm sống của tôi sẽ mất đi.” NgườI Hướng dẫn tôi nhìn khá buồn rầu khi chúng tôi cưỡI ngựa đi qua chorten làm thành cái cổng. “Thật là nhiều những kẻ ăn mày, Lobsang, rất là không cần thiết. Chính là bọn họ đã đem lạI tiếng xấu cho chúng ta ở nước ngoài. Ở Ấn Độ, và ở Trung Quốc, nơi mà ta đi đến vớI Đức Ngài Cao Quý, ngườI ta nói về những kẻ ăn mày của Lhasa, mà không nhận ra rằng một số trong bọn họ rất giàu có. Thế đó, thế đó, có lẽ là sau khi sự hoàn thành của LờI Tiên tri của năm Sư tử Sắt (1950-quân cộng sản xâm lược Tây Tạng) những ngườI ăn mày sẽ bị bắt phảI làm việc. Con và ta sẽ không ở nơi đây để thấy điều đó, Lobsang. ĐốI vớI con, những vùng đất ở nước ngoài. VớI ta, quay trở lạI Những Cánh Đồng trên Thiên Đàng.”
Điều làm tôi buồn hơn bất cứ mức độ đo đạc nào khi nghĩ rằng vị Lama kính yêu của tôi sẽ rờI xa tôi, rờI xa cuộc đờI này. Khi đó tôi đã chưa nhận ra được rằng cuộc sống trên Trái Đất này chỉ là một ảo ảnh, một nơi thử nghiệm, một trường học. Một kiến thức về xử sự của Con NgườI đốI vớI những vây quanh bởI nghịch cảnh đã là vượt quá sức tôi vào lúc đó. Bây giờ thì tôi hiểu!
Về phía bên trái chúng tôi rẽ vào đường Lingkhor, đi ngang qua Kundu Ling, và rẽ trái một lần nữa để đi đến con đường riêng của chúng tôi dẫn đến Núi Sắt. Tôi không bao giờ mệt mỏI trong việc nhìn những tảng đá gồ ghề nhiều màu mà chúng làm nên một mặt của ngọn núi của chúng tôi. Toàn bộ mặt vách đá được bao phủ vớI những chạm khắc và những tranh vẽ của các vị thần linh. Nhưng ngày đã gần hết và chúng tôi không còn thờI gian dư thừa còn lại. Khi chúng tôi cưỡI lên phía trên tôi nghĩ về những ngườI đi thu nhặt dược thảo. MỗI năm một nhóm ngườI từ Chakpori đi đến những ngọn đồI để thu nhặt dược thảo, sấy khô chúng, và đóng gói chúng vào những túi không còn không khí. Nơi này, trên những ngọn đồI, là một trong những kho tàng vĩ đạI của những thuốc chữa từ Tự Nhiên. Rất ít ngườI thực sự đã từng lên những cao nguyên nơi mà có những thứ rất lạ lùng để bàn tới. Đúng, tôi quyết định, tôi có thể bỏ qua một chuyến viếng thăm đến những ngọn đồI vào năm này, và tôi sẽ học hành chăm chỉ để tôi có thể thích hợp để đi cùng vớI đoàn thám hiểm đến những cao nguyên khi mà Lama Mingyar Dondup nghĩ rằng thích hợp. Những nhà chiêm tinh gia đã đoán rằng là tôi sẽ vượt qua kì thi trong lần cố gắng đầu tiên, nhưng tôi biết tôi nên phảI học hành chăm chỉ; tôi biết rằng dự đoán có nghĩa là nếu như tôi học hành đủ chăm! Giai đoạn tâm lý của tôi lúc đó tốI thiểu là tương đương vớI một ngườI mườI tám tuổI, bởI vì luôn luôn tôi trộn lẫn vớI những ngườI rất nhiều tuổI hơn tôi, và tôi phảI tự lo liệu cho chính bản thân mình.
![]() |
Filed under: The Third Eye
Chương 8
Điện Potala
Một buổI sáng thứ hai vị Lama Mingyar Dondup bảo vớI tôi rằng là ngày để chúng tôi đến viếng thăm điện Potala đã được sắp xếp. Nó sẽ là vào cuốI tuần. “Chúng ta phảI diễn tập trước, Lobsang, chúng ta phảI làm cho chúng khá là hoàn thiện trong cách tiếp cận của chúng ta.” Tôi sắp sửa sẽ được đưa ra trình diện trước Đức Dalai Lama, và “sự tiếp cận” của tôi phảI được đúng đắn một cách chính xác. Trong một ngôi đền không sử dụng ở gần trường học của chúng tôi có một bức tượng bằng kích cỡ ngườI thật của Đức Dalai Lama. Chúng tôi đi đến đó và giả vờ là chúng tôi đang là khán giả tạI điện Potala. “Con nhìn ta làm như thế nào trước, Lobsang. Bước vào phòng như thế này, vớI mắt của con nhìn xuống. Đi đến nơi đây, khoảng năm feet từ Đức Dalai Lama. Đưa lưỡI con ra trong lờI chào và quỳ xuống trên đầu gốI con. Bây giờ hãy nhìn một cách cẩn thận; đặt tay của con như vậy và cúi về phía trước. Một lần, một lần nữa, và sau đó là lần thứ ba. Quỳ, vớI đầu con cúi xuống, sau đó đặt cái khăn lụa ngang qua chân Ngài, giống như là thế này. Lấy lạI vị trí của con, vớI đầu cúi xuống, để Ngài có thể đặt một cái khăn vòng qua cổ của con. Tự con đếm đến mườI, để không lộ ra vẻ vộI vã quá đáng, sau đó đứng lên và bước lùi về phía sau đến cái đệm ngồi còn trống gần nhất.” Tôi đã đi theo tất cả mà như vị Lama đã làm mẫu vớI một sự dễ dàng của sự thực tập lâu dài. Ông ta nói tiếp:”Chỉ một lờI báo trước ở nơi đây, trước khi con bắt đầu bước lui về phía sau, hãy liếc nhanh một cách kín đáo về vị trí của cái đệm ngồI gần nhất. Chúng ta không muốn con vướng vào cái gốI vớI gót của con và phảI thực tập một cú ngã sấp để cứu lấy đằng sau gáy của con. Khá là dễ trượt chân trong sự hưng phấn của giây phút đó. Bây giờ con cho ta xem là con thể làm cũng tốt như ta làm.” Tôi đi ra khỏI phòng, và vị Lama vỗ tay như là một dấu hiệu để tôi bước vào. Tôi bước vộI vào trong, chỉ để bị dừng lạI bởI: “Lobsang! Lobsang! Con có phảI là đi vào đây để tham dự một cuộc đua? Bây giờ hãy làm lạI một cách chậm chạp hơn; hãy canh chừng những bước chân của con bằng cách tự nói vớI chính mình, Om-ma-ni-pad-me-Hum! Sau đó con sẽ bước vào như là một thầy tu trẻ đĩnh đạc thay vì là một con ngựa đua đang phi nước kiệu trên đồng bằng Tsang-po.” Tôi bước ra ngoài một lần nữa, và lần này tôi bước vào một cách bình thản nhất và đi đến bức tượng. Trên đầu gốI tôi quỳ xuống, vớI lưỡI của tôi đưa ra theo kiểu chào của Tây Tạng. Ba cái cúi chào của tôi chắc hẳn phảI là những khuôn mẫu cho sự hoàn thiện; tôi rất tự hào về chúng. Nhưng, trờI đất! Tôi đã quên mất cái khăn! Do vậy tôi đi ra ngoài một lần nữa để bắt đầu tất cả mọI thứ lạI một lần nữa. Lần này tôi đã làm nó một cách đúng đắn, và đặt cái khăn nghi lễ tạI chân của bức tượng. Tôi đi lùi về phía sau, và xoay sở ngồI xuống trong tư thế hoa sen mà không bị vướng chân.
“Bây giờ chúng ta đến giai đoạn kế tiếp. Con sẽ phảI giấu một cốc uống nước bằng gỗ ở trong ống tay áo bên trái. Con sẽ được mờI trà khi con ngồI đã được mờI ngồI xuống. Cái cốc được cầm như thế này, lèn chặt vào ống tay áo và cẳng tay. Nếu con cẩn thận một cách thích hợp nó sẽ ở một chỗ. Chúng ta hãy thực tập vớI một cái cốc trên tay áo, và hãy nhớ lấy cái khăn.” MỗI buổI sáng của tuần đó chúng tôi diễn tập lạI để tôi có thể làm được điều đó một cách tự động. Lúc đầu cái cốc sẽ rơi ra và lăn lóc cóc ngang qua sàn nhà khi tôi cúi chào, nhưng tôi sớm làm chủ được sự khéo léo đó. Một thứ sáu tôi phảI đi đến trước Hoà thượng Viện chủ và cho ông ta xem rằng là tôi thành thạo. Ông ta nói rằng màn trình diễn của tôi là “một sự tôn kính đáng giá đốI vớI sự huấn luyện của ngườI anh của chúng ta Mingyar Dondup”.
BuổI sáng hôm sau, thứ bảy, chúng tôi bước xuống đồI để băng ngang sang điện Potala. Tu viện của chúng tôi là một phần của tổ chức Potala mặc dù là nó ở trên một ngọn đồI riêng biệt gần những toà nhà chính. Tu viện của chúng tôi được biết đến như là Ngôi đền của Y học, và Trường Y học. Hoà thượng Viện chủ của chúng tôi là ngườI thầy thuốc duy nhất của Đức Dalai Lama, một vị trí không phảI cùng nhau để mà ghen tỵ, bởI vì công việc của ông ta không phảI là chữa một bệnh, mà là giữ cho bệnh nhân được khỏe mạnh. Bất kì cơn đau hoặc rốI loạn nào do vậy có thể được xem như là do một số sự thất bạI nào đó một phần là do ngườI thầy thuốc. Thế nhưng Hoà thượng Viện chủ không thể đi và khám bệnh cho Đức Dalai Lama bất cứ khi nào mà ông ta muốn, nhưng phảI chờ đợI cho đến khi ông ta được gọI, khi mà bệnh nhân bị bệnh!
Nhưng vào thứ bảy này tôi đã không suy nghĩ về những nỗI lo của ngườI thầy thuốc, tôi đã có đủ những nỗI lo của riêng tôi. TạI chân đồI chúng tôi rẽ về phía điện Potala và mở đường qua những đám đông của những ngườI đi tham quan và những tín đồ khao khát. Những con ngườI này đã đi đến từ tất cả mọI phần đất của Tây Tạng để nhìn thấy căn nhà của NgườI Trong Cùng, như là chúng tôi gọI Đức Dalai Lama. Nếu như họ có thể bắt được một cái nhìn thoáng qua của Ngài thì họ sẽ có thể đi khỏI mà cảm thấy nhiều hơn là sự đền đáp cho những cuộc du hành và những sự gian khó. Một số những tín đồ đã du hành trong một vài tháng bằng chân đất để có thể làm được chuyến viếng thăm đến nơi Linh Thiêng của Những sự Linh Thiêng này. Nơi đây có cả những nông dân, những nhà quý tộc từ các tỉnh xa xôi, những ngườI chăn đàn gia súc, những thương gia, và cả những ngườI bệnh hy vọng sẽ tìm được sự chữa trị ở Lhasa. Tất cả di chuyển thành đám đông trên đường và tạo thành một vành đai sáu dặm xung quanh chân điện Potala. Một số đi lên bằng tay và đầu gốI, những ngườI khác trảI dài thân ngườI trên nền đất, đứng lên, rồI lạI nằm phủ phục xuống. Thế nhưng những ngườI khác, những ngườI bệnh và những ngườI ốm yếu, đi khập khễnh dựa theo sự giúp đỡ của bạn bè, hay là vớI sự giúp đỡ của hai cái gậy. Khắp nơi có những ngườI bán hàng rong. Một số ngườI đang bán trà tẩm bơ được hâm nóng trên một cái lò than đu đưa. Những ngườI khác đang bán đủ loạI thức ăn của nhiều loạI khác nhau. Có nhiều loạI bùa được bày bán và những bùa hộ mạng “được phù hộ bởI một Hiện thân Linh Thiêng (Holy Incarnation)”. Những ngườI đàn ông già đang bán những lá số tử vi được in sẵn cho những nhẹ dạ cả tin. Xa hơn trên con đường một nhóm ngườI đàn ông vui vẻ đang cố gắng bán những bánh xe cầu nguyện cầm tay như là vật lưu niệm từ điện Potala. Những ngườI chép thuê cũng có ở đây: chỉ vớI một số tiền nào đó họ sẽ viết lờI một ghi chú chứng nhận rằng ngườI trả tiền họ đã viếng thăm Lhasa và tất cả các nơi linh thiêng nơi đó. Chúng tôi không có thờI gian cho những thứ này, mục đích của chúng tôi là điện Potala.
Căn nhà riêng của Đức Dalai Lama được đặt ở đỉnh cao nhất của toà nhà, bởI vì không một ai có thể sống ở nơi cao hơn. Một cầu thang đá rộng lớn đi hết cả con đường lên đến tận đỉnh, chạy ở bên ngoài những toà nhà. Nó giống như là một con đường vớI nhiều bậc thang hơn chỉ đơn giản là một cầu thang. Rất nhiều các quan chức cao cấp hơn cưỡI ngựa lên trên để đỡ phảI đi bộ. Chúng tôi gặp nhiều ngườI như vậy trong suốt quá trình leo lên của chúng tôi. TạI một điểm, cao về phía trên, vị Lama Mingyar Dondup dừng lạI và chỉ cho tôi: “Đây là căn nhà trước đây của con, Lobsang, những ngườI giúp việc đang rất hoạt động trong sân nhà.” Tôi đã nhìn, và có lẽ tốt hơn là nên để như vậy mà không nói lên những gì mà tôi cảm thấy. Mẹ tôi vừa mớI cưỡI ngựa ra ngoài cùng vớI đoàn tuỳ tùng những ngườI giúp việc của bà. Tzu cũng đã ở nơi đó. Không, những ý nghĩ của tôi vào lúc đó phảI giữ nguyên là những ý nghĩ của tôi.
Điện Potala là một thành phố nhỏ độc lập trên một ngọn núi nhỏ. Nơi đây được diễn ra tất cả những vụ việc về giáo hội cũng như về thế tục của Tây Tạng. Toà nhà này, hay là nhóm của những toà nhà này, là trái tim sống của đất nước, trung tâm điểm của tất cả những suy nghĩ, của tất cả những hy vọng. Bên trong những bức tường này là những kho báu chứa đựng những khốI vàng, hàng bao tải hàng bao tải ngọc quý, và những thứ của lạ từ những thờI đạI xa xưa nhất. Những toà nhà hiện tạI chỉ vào khoảng ba trăm năm mươi tuổI, nhưng chúng được xây dựng trên nền móng của một dinh thự có trước đó. Rất xa xưa trước đó có một đồn được bọc sắt trên đỉnh của ngọn núi. Rất sâu về phía dướI ở bên trong lòng núi, bởI vì nó có nguồn gốc là một núi lửa, có một hang động khổng lồ, vớI những đường ngầm toả ra từ đó, và có một đầu cuốI là một cái hồ. Chỉ một vài ngườI, một số ít ngườI được rất đặc ân, đã được đến nơi này, hay ngay là chỉ biết đến nó.
Nhưng bên ngoài, trong ánh sáng mặt trờI buổI sáng, chúng tôi đang tìm đường đi lên trên những bậc đá. Khắp mọI nơi chúng tôi nghe thấy những tiếng lách cách củ những bánh xe cầu nguyện — dạng duy nhất của bánh xe ở Tây Tạng chỉ vì lờI dự đoán xưa nói rằng khi những bánh xe đi vào nước này, hoà bình sẽ ra đi. CuốI cùng chúng tôi đạt đến đỉnh nơi mà những ngườI gác cửa khổng lồ đu đưa mở ra cánh cổng bằng vàng khi họ thấy Lama Mingyar Dondup, ngườI mà họ biết rất rõ. Chúng tôi tiếp tục đi cho đến khi chúng tôi đạt đến đỉnh cao nhất của mái nhà nơi mà những ngôi mộ của những Hiện thân tái sinh trước đó của Đức Dalai Lama, và căn nhà riêng hiện nay của ngài. Một bức màn lớn làm bằng len yak, màu huyết dụ, che chắn cửa ra vào. Nó được kéo qua một bên khi chúng tôi tiến lạI gần và chúng tôi đi vào một sảnh đường lớn nơi được canh gác bằng những con rồng xanh làm bằng sứ. Rất nhiều thảm thêu sặc sỡ được treo từ những bức tường, diễn tả những cảnh tôn giáo và những truyền thuyết cổ xưa. Trên những cái bàn thấp hơn có những đồ vật làm vừa tấm lòng của những ngườI sưu tập, những tượng nhỏ của nhiều loạI thần linh và nữ thần khác nhau của thần thoạI, và những đồ trang hoàng bằng cloisonné. Gần nơi bức màn của cửa ra vào, trên một cái kệ sách, yên nghỉ Cuốn sách Những Quý tộc, và tôi mong muốn rằng tôi có thể mở nó ra và thấy tên của tôi ở trong đó, để tự đoan chắc vớI tôi rằng, bởI vì vào ngày hôm nay, ở nơi này, tôi cảm thấy rất nhỏ bé và không đáng kể. Vào tuổI lên tám tôi không còn ảo ảnh nào còn lạI, và tôi tự hỏI tạI sao NgườI lãnh đạo cao nhất của đất nước muốn gặp tôi. Tôi biết rằng điều này là hết sức bất bình thường và ý kiến của tôi lúc đó là sẽ có nhiều công việc khó khăn đằng sau tất cả mọI thứ, công việc khó khăn hoặc là sự gian khổ.
Một vị lama mặc áo màu đỏ anh đào, vớI một khăn choàng vàng quanh cổ của ông ta, đang nói chuyện vớI Lama Mingyar Dondup. NgườI sau dường như là được rất nhiều ngườI biết đến ở nơi đây, và khắp mọI nơi tôi đi vớI ông ta. Tôi nghe: “Đức Ngài rất thích thú, và muốn một cuộc nói chuyện riêng vớI chú ta, chỉ mình chú ta mà thôi.” NgườI Hướng dẫn quay về phía tôi và nói: “Bây giờ là thờI điểm để cho con bước vào trong, Lobsang, ta sẽ chỉ cho con cánh cửa, sau đó hãy đi vào một mình và giờ vờ rằng đó chỉ là một lần thực tập lạI, như là chúng ta đã làm trong cả tuần này.” Ông ta đặt một tay vòng qua vai tôi và dẫn tôi đến một cánh cửa, thì thầm, “Không cần phảI lo nghĩ một điều gì cả — hướng vào trong con đi vào.” VớI một cú đẩy nhẹ sau lưng tôi để khuyến khích tôi ông ta đứng lạI và nhìn theo. Tôi bước vào cửa, và nơi đó, tạI góc xa cuốI của một căn phòng dài, là NgườI Trong Cùng, Đức Dalai Lama thứ MườI ba.
Ông ta đang ngồI trên một đệm ngồI bằng lụa của màu vàng nghệ. Cách ăn mặc của ông ta cũng như là của một lama bình thường, nhưng trên đầu ông ta độI một cái mũ cao màu vàng vớI những vành mũ kéo dài đến hai vai của ông ta. Ông ta chỉ vừa đặt một cuốn sách xuống. Cúi đầu xuống tôi bước ngang qua nền nhà cho đến khi tôi cách khoảng năm feet, sau đó tôi quỳ xuống trên đầu gốI và cúi chào ba lần. Vị Lama Mingyar Dondup đã đưa cho tôi một cái khăn lụa chỉ trước khi tôi bước vào, bây giờ tôi đặt nó dướI chân của NgườI Trong Cùng. Ông ta cúi xuống về phía trước và đặt khăn của ông ta ngang qua hai cổ tay tôi thay vì, như thường lệ, vòng quanh cổ. Tôi cảm thấy mất can đảm bây giờ, tôi phảI đi lui về phía sau đến đệm ngồI gần nhất, và tôi đã quan sát thấy là chúng ở một khoảng cách khá là xa, gần những bức tường. Đức Dalai Lama nói lần đầu tiên:”Những cái đệm đó ở quá xa để cho con bước về phía sau, quay ra đằng sau và mang một cái đến đây để chúng ta có thể nói chuyện cùng nhau.” Tôi đã làm như vậy, và quay lạI vớI một cái đệm ngồi. Ông ta nói,” Đặt nó ở nơi đây, trước mặt ta, và ngồI xuống.” Khi tôi đã ngồI xuống, ông nói,”Bây giờ, anh bạn trẻ, ta đã nghe nói đến một số sự kiện khác thường về con. Con có khả năng nhìn xuyên thấu những cái vô hình dựa trên khả năng của con, và con đã được làm tăng cường quyền năng đó lên thêm nhiều lần bằng Sự mở ra của Con mắt Thứ ba. Ta đã có những hồ sơ ghi lạI về kiếp sống trước của con. Ta cũng có những lờI dự báo của nhà chiêm tinh. Con sẽ có một thờI gian khó khăn vào giai đoạn đầu tiên, nhưng sẽ đạt được sự thành công vào lúc cuốI đời. Con sẽ đi đến rất nhiều nước xa lạ trên toàn cả thế giớI, những đất nước mà con chưa bao giờ nghe nói đến. Con sẽ thấy sự chết chóc và sự huỷ diệt và những sự tàn bạo mà con không thể nào tưởng tượng ra được. Con đường sẽ dài và gian khó, nhưng sự thành công sẽ đến như là đã được dự đoán.” Tôi đã không biết tạI sao ông ta lạI nói vớI tôi tất cả những thứ này, tôi biết tất cả mọI điều, từng từ của điều đó, và đã biết từ lúc tôi lên bảy tuổi. Tôi biết rất rõ là tôi sẽ học về y học và phẫu thuật ở Tây Tạng và sau đó đi sang Trung Quốc và học lạI những môn học đó một lần nữa. Nhưng NgườI Trong Cùng vẫn còn đang tiếp tục nói, khuyến cáo tôi không đưa ra những bằng chứng của bất kỳ một thứ quyền năng bất thường nào, không nên nói về bản ngã, hay linh hồn, khi tôi ở thế giớI phương Tây. “Ta đã từng đi đến Ấn Độ và Trung Quốc,” ông nói, “và trong những nước đó ngườI ta có thể thảo luận về những Sự Thật Vĩ ĐạI hơn, nhưng ta đã gặp rất nhiều ngườI đến từ phương Tây. Những giá trị của họ không giống như là những giá trị của chúng ta, họ thờ phụng thương mạI và vàng. Những khoa học gia của họ bảo rằng:’ Hãy cho chúng tôi xem linh hồn. Đưa nó ra đây, hãy để chúng tôi nắm lấy nó, cân đong nó, và thử nó vớI acids. Hãy nói cho chúng tôi cấu trúc phân tử của nó, và những phản ứng hoá chất của nó. Bằng chứng, bằng chứng, chúng ta phảI có bằng chứng,’ họ sẽ nói vớI con, không quan tâm rằng thái độ phủ nhận của họ đã giết đi bất cứ cơ hộI nào của sự việc mà họ có thể đạt đến bằng chứng. Nhưng bây giờ chúng ta phảI uống trà.”
Ông ta đánh nhẹ vào một cái cồng, và đưa ra một mệnh lệnh cho vị lama trả lờI nó. Một lúc ngay sau đó vị lama quay lạI đem theo trà và những thứ thức ăn đặc biệt đã được nhập khẩu từ Ấn Độ. Khi chúng tôi ăn NgườI Trong Cùng nói, kể cho tôi nghe về Ấn Độ và Trung Quốc. Ông ta bảo rằng ông ta muốn tôi phảI học tập thật sự cật lực, và rằng ông ta sẽ chọn ra những ngườI thầy đặc biệt cho tôi. Tôi một cách giản dị không thể nào kiềm chế được; tôi thốt ra:” Ồ, không ai có thể biết nhiều hơn Thầy của con, Lama Mingyar Dondup!”. Đức Dalai Lama nhìn tôi, sau đó thu đầu lạI về phía sau và cườI phá lên. Có lẽ là không một ngườI nào khác đã nói vớI ông ta như thế, chắc hẳn là không một đứa trẻ tám tuổI nào đã nói như thế. Ông ta có vẻ đánh giá cao điều đó. “Như vậy con nghĩ rằng Mingyar Dondup là tốt, có phảI không? Hãy nói cho ta nghe những gì con thực sự suy nghĩ về ông ta, chú gà chọI nhỏ!” “Thưa ngài!” tôi đáp, “ngài đã nói vớI con rằng là con có những quyền năng đặc biệt về nhìn xuyên thấu những thứ vô hình. Vị Lama Mingyar Dondup là ngườI tốt nhất mà con đã từng được gặp.” Đức Dalai Lama lạI cườI lớn một lần nữa và gõ vào cái cồng bên cạnh ông ta. “Bảo Mingyar vào đây,” ông ta nói vớI vị lama ngườI trả lờI lờI gọI.
Vị Lama Mingyar Dondup bước vào, và cúi chào NgườI Trong Cùng. “Đem một cái đệm ngồI đến đây và ngồI xuống, Mingyar,” Đức Dalai Lama nói. ”Tính cách của anh đã được nói đến bởI cậu bé trẻ tuổI này của anh; đó là một sự đánh giá mà ta đồng ý hoàn toàn.” Vị Lama Mingyar Dondup ngồI xuống bên cạnh tôi, và Đức Dalai Lama tiếp tục,”Anh đã chấp nhận hoàn toàn trách nhiệm cho sự huấn luyện của Lobsang Rampa. Hãy đề ra kế hoạch tùy theo ý muốn của anh, và hãy gọI đến ta nếu cần bất cứ lá thư uỷ quyền nào. Thỉnh thoảng ta sẽ gặp chú ta.” Quay về phía tôi, ông nói,”Anh bạn trẻ, anh đã lựa chọn đúng đắn, NgườI Hướng dẫn của anh đã là một ngườI bạn cũ của ta trong những ngày tháng trước đây, và một Bậc thầy thực sự của Thuật Huyền bí.” Có một vài lờI nói nữa, và sau đó chúng tôi đứng dậy, cúi chào, và rờI khỏI phòng. Tôi có thể thấy rằng vị Lama Mingyar Dondup một cách thầm kín đã hết sức hài lòng vớI tôi, hoặc là vớI những ấn tượng mà tôi đã tạo ra. “Chúng ta sẽ lưu lạI đây trong một vài ngày và thám hiểm một số phần ít được biết đến của những toà nhà này,” ông nói.”Một số hành lang và những phòng dướI tầng hầm đã không được mở ra trong suốt hai trăm năm qua. Con sẽ học hỏI được rất nhiều về lịch sử Tây Tạng từ những căn phòng này.”
Một trong những vị lama coi sóc – không một ai ở dướI cấp bậc đó trong dinh thự của Đức Dalai Lama — tiến lạI và nói rằng chúng tôi nên có mỗI ngườI một phòng nơi đây tạI đỉnh của toà nhà. Ông ta chỉ cho chúng tôi những căn phòng, và tôi khá là thích thú vớI quang cảnh nhìn thấy bên ngoài, xuyên ngay qua Lhasa, xuyên qua đồng bằng. Vị Lama nói,” Đức Ngài Linh Thiêng đã ra lệnh rằng các bạn có thể đến và đi lúc nào cũng được và không một cánh cửa nào được đóng lạI trước các bạn.”
Vị Lama Mingyar Dondup bảo vớI tôi rằng là tôi nên nằm nghỉ trong một thờI gian. Vết thẹo trên chân trái của tôi vẫn còn tạo ra nhiều điều phiền toái, nó vẫn còn đau, và tôi đi vớI một sự khập khiễng. Vào lúc đó ngườI ta sợ rằng là tôi sẽ trở thành ngườI tàn tật suốt đời. Trong một giờ tôi nằm nghỉ, sau đó NgườI Hướng dẫn của tôi đi đến đem theo trà và thức ăn. “Đã đến giờ phảI làm đầy những cái bụng trống rỗng, Lobsang, họ ăn uống tốt ở đây, do vậy chúng ta phảI tận dụng tốI đa điều đó.” Tôi không cần một sự khuyến khích nào cho việc ăn uống. Khi chúng tôi đã xong, vị Lama Mingyar Dondup dẫn đường đi ra khỏI phòng, và chúng tôi đi vào một phòng khác về phía xa của mái nhà bằng. Nơi này, vớI sự ngạc nhiên tột độ của tôi, những cửa sổ không được bao phủ bằng giấy tẩm dầu, và được phủ vớI không có gì cả nhưng lạI nhìn xuyên qua được. Tôi đưa tay tôi ra ngoài và hết sức cẩn thận chạm vào cái không có gì mà nhìn thấy được. Một sự ngạc nhiên đập vào tôi khi nó lạnh, lạnh gần như là băng, và rất trơn. Sau đó ánh sáng bừng lên trong tôi:thủy tinh! Tôi chưa bao giờ thấy thứ này dướI dạng tấm như thế này. Chúng tôi đã có sử dụng bột thuỷ tinh trong những sự dây diều của chúng tôi, nhưng những thứ đó rất dày và ngườI ta không thể nào nhìn xuyên qua nó. Nó lạI có màu sắc, nhưng thứ này, trong suốt như là nước.
Nhưng đó không phảI là tất cả. Vị Lama Mingyar Dondup mở toang một cánh cửa sổ, và nhặt lấy một ống đồng thau mà nó có vẻ giống như là một phần của một cái kèn trumpet được bao phủ trong da thuộc. Ông ta cầm lấy cái ống và kéo, và bốn phần hiện ra, mỗI phần ở trong một phần còn lại. Ông ta cườI lớn trước những biểu lộ trên mặt tôi, và sau đó đưa một đầu của cái ống ra ngoài cửa sổ và đưa đầu kia lạI gần mặt của ông ta. Ah! Tôi nghĩ, ông ta sắp sửa chơi nhạc cụ đó. Nhưng đầu cuốI không đi vào miệng của ông ta, mà đi vào mắt ông. Ông ta điều chỉnh một lúc vớI cái ống, và sau đó nói: “Nhìn xuyên qua đây, Lobsang, nhìn vớI con mắt phảI của con và giữ con mắt trái đóng lại.” Tôi nhìn, và gần như là ngất xỉu vì sự kinh ngạc quá mức tưởng tượng. Một ngườI đàn ông trên lưng ngựa đang cưỡI trong ống về phía tôi. Tôi nhảy qua một bên, và nhìn xung quanh. Không có một ai trong phòng ngoạI trừ Lama Mingyar Dondup, và ông ta đang lắc lư vì cườI lớn. Tôi nhìn ông ta một cách nghi ngờ, nghĩ rằng ông ta đã bỏ bùa mê cho tôi. “Đức Ngài Linh Thiêng đã nói rằng ông là một Bậc Thầy về Nghệ thuật Huyền bí,” tôi nói, ”nhưng có phảI ông muốn chế nhạo học trò của ông?” Ông ta cườI lớn nhiều hơn nữa, và ra hiệu cho tôi nhìn vào đó một lần nữa. VớI một nghi ngạI đáng kể tôi đã nhìn lạI, và NgườI hướng dẫn tôi di chuyển cái ống một cách nhẹ nhàng để tôi có thể thấy một góc nhìn khác. Một ống kính viễn vọng! Chưa bao giờ từ trước đến nay tôi đã nhìn thấy một thứ như vậy. Không bao giờ tôi có thể quên được cảnh của một ngườI đàn ông cỡI ngựa đi lên bên trong một cái ống về phía tôi. Tôi thường nhớ đến điều đó mỗI khi có một ngườI phương Tây nói rằng “Không thể có chuyện đó!” về một số sự kiện về những nghệ thuật huyền bí. Đức Dalai Lama đã đem về rất nhiều kính viễn vọng từ Ấn Độ vớI ông khi ông quay trở về từ Ấn Độ, và ông rất thích nhìn ra vùng đồng quê xung quanh. Nơi đây, tôi cũng nhìn qua một cái cửa kính lần đầu tiên và tôi chắc hẳn là đã không nhận ra được hình thù quái dị mà tôi đã nhìn thấy. Tôi đã thấy một chú bé con mặt tái vớI một vết sẹo đỏ lớn ở giữa trán của hắn ta, và một cái mũi không thể là chốI cãi được là rất nổI bật. Tôi đã nhìn thấy cái bóng lờ mờ của tôi trước đó dướI mặt nước, nhưng hình ảnh này thô kệch quá. Tôi đã không chú ý đến những cái gương từ dạo đó.
NgườI ta có thể nghĩ rằng Tây Tạng là một xứ lạ lùng không có thuỷ tinh, không có kính viễn vọng hay những cái gương soi, nhưng những ngườI dân không muốn những thứ đó. Chúng tôi cũng không muốn những bánh xe. Những bánh xe được làm ra cho tốc độ, và cho cái gọI là nền văn minh. Chúng tôi từ lâu đã nhận thức ra được rằng trong sự vộI vã của đờI sống thương mạI không có chỗ cho những thứ thuộc về đầu óc. Thế giớI vật chất của chúng tôi đã tiến triển vớI một nhịp điệu thong thả, để cho kiến thức về tâm linh của chúng tôi có thể phát triển và mở rộng. Chúng tôi trong hàng ngàn năm đã biết đến sự thật của việc nhìn xuyên thấu những thứ vô hình, thần giao cách cảm, và những nhánh khác của khoa học huyền bí. Trong khi khá là đúng rằng nhiều lama có thể ngồI trần trụI trong tuyết lạnh, và chỉ bằng ý nghĩ mà thôi có thể làm tan tuyết xung quanh họ, những thứ như vậy không được biểu diễn cho sự vui thú của những ngườI chỉ tìm những sự lạ giật gân. Một số lama, những ngườI là những bậc thầy của những nghệ thuật huyền bí, chắc chắn có thể khinh công, nhưng họ không biểu diễn những quyền năng của họ để làm trò mua vui cho những ngườI qua đường đứng xem một cách ngây thơ. Những bậc thầy, ở Tây Tạng, luôn luôn chắc chắn rằng những đồ đệ của ông ta có đầy đủ tư cách đạo đức để được tin cậy vớI những quyền năng đó. Từ điều này mà theo đó, rằng vì ngườI thầy phảI hoàn toàn đảm bảo về sự hoàn thiện về đạo đức của học trò, những quyền năng huyền bí không bao giờ bị lạm dụng, bởI vì chỉ những ngườI đứng đắn mớI được chỉ dạy. Những quyền năng đó không có gì là xảo thuật cả, chúng chỉ đơn giản là kết quả của việc sử dụng những quy luật của tự nhiên.
Ở Tây Tạng có một số ngườI có thể phát triển tốt nhất trong một nhóm, có những ngườI khác muốn lui vào ở ẩn trong trạng thái cô độc. Những ngườI thuộc loạI kể sau đi ra những tu viện nằm ở ngoài rìa và đi vào một xà lim nhỏ dành cho những người ẩn dật. Đó là một căn phòng nhỏ, thường là được xây dựng trên rìa của một ngọn núi. Những bức tường đá khá dày, có lẽ là dày khoảng sáu feet để cho âm thanh không thể nào xuyên qua. NgườI muốn ở ẩn đi vào, theo ý muốn của ông ta, và cửa ra vào được xây chắn lại. Không có một chút ánh sáng nào cả, không có đồ đạc, không có thứ gì cả ngoạI trừ một hộc đá trống rỗng. Thức ăn được chuyền vào trong một lần trong ngày qua một cửa sập chặn ánh sáng và chặn cả âm thanh. Nơi này ẩn sỹ sẽ ở lạI, ban đầu trong vòng ba năm, ba tháng và ba ngày. Ông ta thiền định về bản chất của Cuộc đờI, và bản chất của Con Người. Không vì bất cứ một lý do nào mà ông ta có thể rờI khỏI xà lim dướI dạng thân thể vật chất. Trong tháng cuốI cùng của quá trình ở ẩn một lỗ hổng rất nhỏ được khoét ra trên trần nhà để cho một tia sáng rất mờ nhạt đi vào. Lỗ hổng được khoét rộng ra từng ngày một để đôi mắt của ẩn sỹ trở nên lạI một lần nữa làm quen dần vớI ánh sáng. Nếu không thì ông ta sẽ bị mù loà ngay lúc mà ông ta trồI ra khỏI xà lim. Rất thường xuyên những ngườI đàn ông này quay trở lạI xà lim sau chỉ một vài tuần, và ở lạI trong đó cho hết toàn bộ cuộc đời. Đó không phảI là một sự tồn tạI cằn cỗI, vô dụng như là ngườI ta thường hay giả sử. Con ngườI là một linh hồn, một sinh vật của thế giớI khác, và một khi ông ta đã có thể tự do khỏI sự trói buộc của thể xác, ông ta có thể lang thang trong thế giớI như là một linh hồn và có thể giúp đỡ chỉ bằng ý nghĩ. Những ý nghĩ, như chúng tôi ở Tây Tạng biết rất rõ, là những đợt sóng của năng lượng. Vật chất là năng lượng được làm cô đọng lại. Chính là ý nghĩ, được hướng đi một cách cẩn thận và một phần được làm cô đọng lạI, là thứ có thể làm cho một vật được di chuyển “bằng ý nghĩ”. Ý nghĩ, khi được điều khiển dướI một dạng khác, có thể cho kết quả là sự thần giao cách cảm, và có thể làm cho một ngườI ở một khoảng cách rất xa có thể làm một hành động nào đó. TạI sao điều này là rất là khó tin, trong một thế giớI mà điều được xem là bình thường khi một ngườI đàn ông nói vào một microphone để hướng dẫn một máy bay hạ cánh xuống trong sương mù dày đặc, khi ngườI phi công không thể nào nhìn thấy một cái gì cả trên mặt đất? VớI một chút ít huấn luyện, và không có sự nghi ngờ, Con NgườI có thể làm được điều này bằng thần giao cách cảm thay vì là sử dụng một cái máy có thể tạo sai lầm.
Sự phát triển về khoa học huyền bí của tôi đã không đòi hỏI sự ẩn dật kéo dài này trong bóng tốI hoàn toàn. Nó đã đi theo một dạng khác mà nó không được có sẵn cho một số đông của những ngườI muốn trở thành những ẩn sỹ. Sự huấn luyện của tôi được hướng dẫn về hướng của một mục đích riêng biệt, và bằng những mệnh lệnh trực tiếp của Đức Dalai Lama. Tôi được dạy những thứ này bằng một phương pháp khác, cũng như là bằng sự thôi miên, mà chúng không thể nào được thảo luận trong một cuốn sách vớI bản chất như thế này. Đủ để nói rằng là tôi được ban cho nhiều sự khai sáng hơn là một ẩn sỹ trung bình có thể đạt được trong một cuộc đờI rất dài. Cuộc viếng thăm điện Potala của tôi có liên quan đến những giai đoạn ban đầu của sự huấn luyện này, nhưng nhiều hơn về những thứ đó sẽ được bàn đến sau này.
Tôi rất ngạc nhiên bởI kính viễn vọng đó, và tôi dùng nó rất nhiều để khảo sát những nơi mà tôi biết đến khá rõ. Vị Lama Mingyar Dondup giảI thích về những quy luật hết sức chi tiết để tôi có thể hiểu rằng không có trò ảo thuật nào liên quan đến cả, mà chỉ mà những quy luật bình thường của tự nhiên.
Tất cả mọI thứ được giảI thích, không chỉ là về kính viễn vọng, nhưng những nguyên nhân cũng được đưa ra là tạI sao một việc như vậy có thể xảy ra. Tôi không bao giờ có thể nói “Ồ! Đó là trò ảo thuật!” mà không có một lờI giảI thích của những luật liên quan đến. Một lần trong chuyến viếng thăm này tôi được đưa đến một phòng tốI đen hoàn toàn. Vị Lama Mingyar Dondup nói, “Bây giờ con hãy đứng nơi đây, Lobsang, và hãy nhìn cái tường trắng đó.” Sau đó ông ta thổI tắt ngọn lửa của ngọn đèn bơ và làm một cái gì đó đốI vớI màn chắn cửa sổ. Ngay lập tức xuất hiện trên bức tường trước mặt tôi một bức tranh của Lhasa, nhưng lộn ngược trên xuống dướI! Tôi la lớn lên vớI sự ngạc nhiên trước cảnh đàn ông, đàn bà, và những con yak đang đi xung quanh lộn ngược. Bức tranh đột nhiên rung rinh, và tất cả mọI thứ bây giờ ở đúng hướng quay lên. LờI giảI thích về “uốn cong những tia sáng” thật sự làm tôi khó hiểu hơn mọI thứ khác; làm thế nào mà ngườI ta có thể uốn cong ánh sáng? Tôi đã được xem biểu diễn về phương pháp làm phá vỡ những cái chai và bình đựng nước vớI một tiếng huýt sáo không phát ra âm thanh, điều đó khá là đơn giản và không đáng để suy nghĩ sâu xa hơn, nhưng “làm uốn cong ánh sáng”! Cho đến khi một thiết bị đặc biệt, bao gồm một ngọn đèn được giấu bên trong nhiều thanh khác nhau, được đem ra từ một phòng bên cạnh, thì tôi có thể hiểu được mọI việc. Sau đó tôi có thể thấy những tia sáng bị bẻ đi, và không một thứ nào làm tôi ngạc nhiên sau đó nữa.
Những kho chứa của điện Potala được chất đầy vớI những bức tượng tuyệt vờI, những cuốn sách cổ xưa, và những bức tranh treo tường đẹp nhất của những đề tài về tôn giáo. Một số rất, rất ít những ngườI phương Tây đã từng thấy những thứ này, và cho rằng chúng khiếm nhã. Chúng miêu tả sinh động một linh hồn đàn ông và một đàn bà trong tư thế ôm chặt lẫn nhau, nhưng mục đích của những bức tranh này là rất xa khỏI những thứ khiêu dâm, và không một ngườI Tây Tạng nào có bao giờ dám xem chúng là như vậy. Những ảnh hai ngườI trần trụI trong tư thế ôm nhau được diễn nghĩa là truyền đạt sự ngây ngất mà nó theo sau sự kết hợp nhau của Kiến Thức và Sống Đúng Đắn. Tôi thú nhận rằng tôi đã hoảng sợ quá sức tưởng tượng khi tôi lần đầu tiên thấy rằng những ngườI theo Thiên chúa giáo thờ phụng một ngườI đàn ông đang bị hành quyết và bị đóng đinh vào thánh giá như là biểu tượng của họ. Điều đáng tiếc là chúng ta tất cả đều có xu hướng đánh giá những dân tộc khác từ những nước khác bằng những tiêu chuẩn của riêng chúng ta.
TrảI qua nhiều thế kỉ những món quà đã được đem đến điện Potala từ nhiều nước khác nhau, những món quà gửI tặng Đức Dalai Lama của thờI kì đó. Gần như tất cả các món quà này đã được lưu trữ trong những phòng này, và tôi đã có một thờI gian tuyệt vờI đi khám phá và thu nhận được những ấn tượng đo nghiệm tinh thần về những lý do tạI sao những tặng phẩm này được gởI đến từ nơi đầu tiên. Đó thật sự là một sự giáo dục về các động cơ (của việc gửI tặng quà). Sau đó, sau khi tôi đã nói lên ấn tượng của tôi đạt được từ tặng phẩm đó, NgườI Hướng dẫn tôi sẽ đọc ra từ một cuốn sách và nói vớI tôi lịch sử chính xác, và những gì đã xảy ra sau đó. Tôi rất hài lòng vớI những lờI khen càng ngày càng thường xuyên của ông ta,”Con nói khá đúng, Lobsang, con thực sự đang tiến triển rất tốt.”
Trước khi rờI điện Potala chúng tôi đã làm một chuyến viếng thăm đến một trong các đường hầm ngầm dướI lòng đất. Tôi được nói rằng tôi có thể thăm chỉ một đường hầm ngầm mà thôi, bởI vì tôi sẽ viếng thăm những đường ngầm khác trong một thờI gian sau này. Chúng tôi cầm lấy những bó đuốc sáng chập chờn và một cách cẩn thận trèo xuống cái mà có vẻ như là những bậc thang không bao giờ chấm dứt, và trượt dọc theo những lốI đi bằng đá trơn nhẵn. Những đường hầm này, tôi được kể, đã được làm nên bởI những hoạt động của núi lửa hàng hằ thế kỉ về trước. Trên những bức tường là những sơ đồ và những bản vẽ lạ lùng của những cảnh vật khá là không quen thuộc. Tôi thích hơn trong việc sẽ được xem cái hồ mà tôi đã được kể là trảI dài hàng dặm tạI đầu cuốI của một con đường. CuốI cùng thì chúng tôi bước vào một đường hầm mà nó trở nên rộng hơn và rộng hơn, cho đến đột nhiên mái vòm biến mất cho đến nơi mà ánh đuốc của chúng tôi không thể nào vớI tới. Một trăm yard nữa, và chúng tôi đứng tạI mức của một thứ nước mà tôi chưa bao giờ được nhìn thấy. Nó đen và tĩnh lặng, vớI màu đen mà là nó xuất hiện gần như là không nhìn thấy được, giống nhiều hơn một cái hố không đáy hơn là một cái hồ. Không một gợn nước làm khuấy động mặt nước, không một âm thanh phá tan sự im lặng tĩnh mịch. Tảng đá trên đó chúng tôi đứng cũng đen, nó sáng lên lấp lánh trong ánh sáng của những ngọn đuốc, nhưng một ít về phía bên cạnh là một dảI sáng lấp lánh trên tường. Tôi bước về phía nó, và thấy rằng trên tảng đá có một băng rộng lớn bằng vàng mà có lẽ là dài mườI lăm đến hai mươi feet và kéo dài từ cổ đến đầu gốI của tôi. Nhiệt độ rất lớn đã từng làm nó bắt đầu chảy ra từ núi đá, và nó đã nguộI đi thành tảng như là sáp nến bằng vàng. Vị Lama Mingyar Dondup phá tan sự im lặng: “Cái hồ này đi đến tận Sông Tsang-po cách đây bốn mươi dặm. Rất nhiều và nhiều năm về trước một nhóm các nhà sư có đầu óc phiêu lưu đã làm một cái bè gỗ, và làm những mái chèo để chèo nó đi. Họ đã chất lên trên bè nhiều bó đuốc, và đẩy nó ra xa khỏI bờ. Trong nhiều dặm họ đã chèo, thám hiểm, sau đó họ đã đến một không gian lớn còn rộng hơn nơi mà họ không thấy những vách tường hay là mái vòm. Họ trượt đi trong khi họ chèo đi một cách nhẹ nhàng, không chắc chắn là nên đi theo hướng nào.”
Tôi lắng nghe, hình tượng ra cảnh đó một cách rõ ràng. Vị Lama nói tiếp: “Họ đã lạc đường, không biết hướng nào là đi tớI, hướng nào là đi lui. Đột nhiên cái bè tròng trành lắc lư, và có một đợt gió mạnh đã dập tắt những bó đuốc của họ, để cho họ ở trong bóng tốI hoàn toàn, và họ cảm thấy rằng cái bè mỏng manh của họ đang trong tầm nắm chặt của những loạI Ma Quỷ DướI nước. Họ bị xoay vòng quanh, cảm thấy choáng váng và buồn nôn. Họ bám vào những sợI dây buộc những thanh gỗ lạI cùng nhau. VớI những chấn động dữ dộI, những cơn sóng nước dộI lên mặt bè và họ bị ướt hoàn toàn. Tốc độ của họ được tăng lên, họ cảm thấy họ đang trong tầm nắm của một thú vật khổng lồ độc ác đang kéo họ đến số phận bất hạnh. Họ đã du hành trong bao lâu họ không có cách nào để biết được. Không có ánh sáng, bóng tốI là một màu đen đặc, như thể là chưa bao giờ có trên mặt đất. Có một tiếng rít do cọ xát, và những cú đánh choáng váng và những sức ép do sự nghiền nát. Họ bị ném khỏI chiếc bè và bị dìm xuống nước. Một số ngườI trong bọn họ chỉ có đủ thờI gian để hớp lấy một ngụm không khí. Những ngườI còn lạI không được may mắn như vậy. Ánh sáng chợt xuất hiện, xanh nhạt và mờ ảo, rồI nó trở nên sáng dần. Họ bị cuộn xoắn và đánh lên cao, sau đó họ bắn lên vào trong ánh nắng mặt trờI chói chang.
Hai ngườI trong bọn họ đã xoay sở để đạt đến bờ hơn nửa phần đã chết đuốI, méo mó và đầy máu. Ba ngườI còn lạI trong đoàn đã không để lạI dấu vết. Trong nhiều giờ họ nằm nơi đó nửa sống nửa chết. CuốI cùng một ngườI đủ sức đứng dậy để nhìn xung quanh ông ta. Ông ta gần như là ngã quỵ xuống vì choáng váng. Về phía xa xa là điện Potala. Xung quanh họ là những bãi cỏ xanh vớI những con yak đang gặm cỏ. Ban đầu họ nghĩ rằng là họ đã chết, và nơi đây là thiên đường của Tây Tạng. Sau đó họ nghe thấy những tiếng bước chân bên cạnh họ, và một ngườI chăn gia súc đang nhìn xuống họ. Anh ta đã thấy những mảnh bè vỡ vụn trôi theo dòng nước và đã đi đến để nhặt lấy để dùng cho những việc riêng. CuốI cùng thì hai nhà sư đã xoay sở để thuyết phục anh ta rằng họ là những nhà sư, và áo quần của họ đã hoàn toàn bị xé rách, và anh ta đồng ý đi đến điện Potala để gọI những ngườI mang kiệu tới. Từ ngày đó rất ít đã được làm để thám hiểm cái hồ, nhưng ngườI ta biết rằng có những hòn đảo một chút hơi xa khỏI tầm những ngọn đuốc của chúng tôi. Một trong chúng đã được thám hiểm, và những gì đã được tìm thấy con sẽ được thấy sau này sau khi con đã được khai tâm.”
Tôi nghĩ tất cả về những thứ đó và tôi mong ước rằng mình có được một chiếc bè và thám hiểm cái hồ. NgườI Hướng dẫn tôi đang nhìn những biểu hiện trong vẻ mặt của tôi: đột nhiên ông ta cườI lớn và nói:” Đúng, điều đó thật là thú vị trong việc thám hiểm, nhưng tạI sao chúng ta phảI lãng phí thân xác của chúng ta trong khi chúng ta có thể thám hiểm trong cõi astral? Con có thể, Lobsang, chỉ trong vòng một vài năm con sẽ đủ khả năng để thám hiểm nơi này vớI ta, và cộng thêm vào tổng số kiến thức mà chúng ta đã có về nó. Nhưng cho bây giờ, học, chú bé, hãy học. Cho cả hai chúng ta.”
Những ngọn đuốc của chúng tôi bập bùng cháy ở mức thấp hơn và dường như là chúng tôi sẽ sớm sờ soạng như ngườI mù trong bóng tốI của những đường hầm. Khi chúng tôi quay đi khỏI cái hồ tôi nghĩ là chúng tôi đã không thông minh trong việc không đem thêm những bó đuốc dự phòng. Ngay chính lúc đó vị Lama Mingyar Dondup quay về phía bức tường ở phía xa và sờ xung quanh. Từ một hốc tường ẩn kín nào đó ông ta lấy thêm mấy bó đuốc và đốt chúng lên từ những cái đang cháy âm ỉ gần như sắp tắt.
“Chúng ta giữ những thứ dự phòng nơi này, Lobsang, bởI vì nó sẽ là khó khăn để tìm đường đi trong bóng tối. Bây giờ chúng ta hãy đi thôi.”
Dọc lên trên những hành lang dốc đứng chúng tôi leo lên một cách mệt nhọc, nghỉ một chút để lấy hơi và nhìn xem một số bức vẽ trên các bức tường. Tôi không thể hiểu chúng, chúng trông có vẻ như là của những ngườI khổng lồ, và có những thứ máy móc hết sức kì lạ mà chúng hoàn toàn vượt khỏI sự hiểu biết của tôi. Nhìn về NgườI Hướng dẫn tôi có thể ông ta có vẻ rất thoảI mái vớI những bức vẽ này, và vớI những đường hầm. Tôi mong đợI những chuyến viếng thăm khác đến nơi này, có một điều bí ẩn về tất cả những thứ này, và tôi không bao giờ có thể nghe về một điều bí ẩn và không cố gắng đạt đến đáy của nó. Tôi không thể nào chịu đựng được ý nghĩ sẽ phảI trảI qua nhiều năm để đoán ra một lờI giảI thích khi mà có một cơ hộI để tìm ra câu trả lờI, mặc dù là để làm được điều đó tôi có thể liên quan vào một sự nguy hiểm đáng kể. Những ý nghĩ của tôi bị cắt ngang bởI: “Lobsang! Con đang lầm bầm như là một ông già. Chúng ta chỉ có một vài bậc nữa để bước lên, và sau đó sẽ lạI là ánh sáng ban ngày. Chúng ta sẽ đi lên mái nhà và sử dụng kính viễn vọng để chỉ ra nơi mà những nhà sư khi xưa đi lên khỏI mặt đất.”
Khi chúng tôi làm điều đó, khi chúng tôi đang ở trên mái nhà, tôi tự hỏI là tạI sao chúng tôi không thể cưỡI ngựa bốn mươi dặm và thực sự thăm nơi đó. Vị Lama Mingyar Dondup bảo tôi rằng không có nhiều thứ để mà nhìn, chắc chắn là không một thứ gì mà kính viễn vọng không thể phơi bày. Điểm ra từ cái hồ hiển nhiên là xa bên dướI mặt nước và không có một thứ gì đánh dấu nơi đó, ngoạI trừ một lùm các bụI cây đã được trồng nơi đó theo lệnh của Hiện thân tái sinh trước đó của Đức Dalai Lama.
Filed under: The Third Eye
Chương 7
Sự mở ra của Con mắt Thứ ba
Ngày sinh nhật của tôi đến, và trong suốt ngày hôm đó tôi được tự do, tự do khỏI phảI lên các lớp học, tự do khỏI phảI tham dự các nghi lễ. Vị Lama Mingyar Dondup nói, vào buổI sáng sớm,”Hãy có một ngày vui vẻ, Lobsang, chúng ta sẽ đến gặp con vào lúc hoàng hôn.” Thật là một cảm giác dễ chịu nằm ngả ra trên lưng, làm biếng, dướI ánh nắng mặt trời. Chỉ một chút phía dướI tôi có thể thấy điện Potala vớI các mái điện sáng lóng lánh. Đằng sau tôi là mặt nước xanh của Norbu Linga, hay là Công viên Ngọc quý, làm cho tôi mong ước rằng tôi có thể lấy một chiếc thuyền da và trượt dọc theo mặt nước. Về phía nam, tôi có thể thấy một nhóm các nhà buôn đang băng ngang qua bến phà Kyi Chu. Một ngày trôi qua thật quá nhanh!
VớI sự chết đi của ban ngày là buổI chiều tốI được sinh ra, và tôi đi đến một căn phòng nhỏ nơi mà tôi sẽ nằm nghỉ. Có tiếng xì xào của những đôi giày nỉ nhẹ nhàng đi trên nền đá ở bên ngoài, và đi vào trong phòng là ba vị lama cao cấp. Họ đặt một hỗn hợp dược thảo nén chặt lên đầu tôi và buộc chặt vào một chỗ. Vào buổI tối ba ngườI đó lạI đến một lần nữa, và một ngườI là Lama Mingyar Dondup. Một cách cẩn thận hỗn hợp nén được gỡ ra, và trán của tôi được lau sạch và khô. Một lama trông khoẻ mạnh ngồI đằng sau tôi và đặt đầu của tôi giữa hai đầu gốI của ông ta. Vị lama thứ hai mở ra một cái hộp và gỡ ra một dụng cụ được làm bằng thép sáng loáng. Nó giống như là một cái dùi ngoạI trừ là thay vì có dạng một thanh trụ tròn cái này có dạng hình chữ “U”, và nơi thay vì có đầu nhọn có một cái răng nhỏ xung quanh cạnh của chữ “U”. Trong một vài khoảnh khắc vị lama nhìn vào dụng cụ đó, và đưa nó qua ngọn lửa của một cái đèn để sát trùng nó. Lama Mingyar Dondup cầm lấy tay tôi và nói, “Điều này khá là đau đớn, Lobsang, và nó chỉ có thể được làm khi con hoàn toàn tỉnh táo. Nó sẽ không tốn quá nhiều thờI gian, do vậy cố gắng mà giữ càng yên càng tốt.” Tôi có thể thấy được nhiều thứ dụng cụ được trảI ra, và một tập hợp của các loạI thuốc xức làm từ dược thảo, và tôi tự nghĩ thầm: “Thế là, Lobsang, con trai, họ sẽ làm xong con bằng cách này hay cách khác và không có một điều gì mà con có thể làm để tránh lạI điều đó — ngoạI trừ giữ im lặng!”
Vị lama vớI dụng cụ nhìn xung quanh đến những ngườI khác, và nói: “Tất cả đã sẵn sàng hay chưa? Chúng ta hãy bắt đầu bây giờ, mặt trờI vừa mớI lặn.” Ông ta nhấn mạnh dụng cụ vào trung tâm của trán của tôi và xoay xoay cái cán. Trong một giây lát có một cảm giác giống như là một ai đó đang châm vào tôi vớI nhiều gai nhọn. ĐốI vớI tôi dường như là thờI gian đã dừng lại. Không có một cái đau đặc biệt nào khi nó xuyên qua da và thịt, nhưng có một cú xóc nảy lên khi đầu cuốI đụng vào xương. Ông ta đặt thêm một ít sức ép, lúc lắc dụng cụ nhè nhẹ để cái răng nhỏ có thể gặm xuyên vào xương phía trước. Cái đau không sắc bén một chút nào, chỉ một áp lực và một cái đau âm ỉ. Tôi không cử động vớI Lama Mingyar Dondup đang nhìn từ bên trên; tôi thà là chết còn hơn là di chuyển hay khóc to lên. Ông ta có niềm tin vào tôi, như là tôi có niềm tin vào ông ta, và tôi biết rằng là những gì ông ta làm hay nói là đúng. Ông ta đang nhìn một cách chăm chú nhất, vớI một nếp nhăn nhỏ của các cơ đang căng ra tạI những góc của miệng ông ta. Đột nhiên có một tiếng nghiến nhỏ và dụng cụ xuyên qua xương. Ngay lập tức chuyển động của nó bị chặn lạI bởI ngườI phẫu thuật hết sức cảnh giác. Ông ta cầm lấy cái tay cầm của dụng cụ một cách vững chắc trong khi Lama Mingyar Dondup chuyền cho ông ta một mảnh gỗ rất cứng và rất sạch và nó đã được xử lý qua lửa và dược thảo để làm cho nó cứng như thép. Mảnh gỗ này được kẹp vào trong chữ “U” của dụng cụ và được trượt xuống phía dướI để nó được đặt vào cái lỗ trong đầu tôi. Vị lama đang giảI phẫu tránh nhẹ qua một bên để Lama Mingyar Dondup có thể đứng trước mặt tôi. Sau đó, vớI một cái gật đầu của ngườI sau, ngườI giảI phẫu, vớI một sự cảnh giác vô hạn, trượt mảnh gỗ xa hơn và xa hơn. Đột nhiên tôi cảm thấy một cảm giác nhức nhốI và ngứa ngáy hiển nhiên là trên sống mũi của tôi. Nó lắng xuống, và tôi bắt đầu nhận thức được những hương thơm phảng phất mà tôi không thể nào nhận ra được. Điều đó cũng trôi qua và được thay thế bằng một cảm giác như thể là tôi đang đẩy, hay đang bị đẩy, áp vào một bức màn đàn hồi. Đột nhiên có một ánh chớp choáng mắt, và tạI ngay giây phút đó Lama Mingyar Dondup nói “Dừng!”. Trong một khoảnh khắc cái đau là dữ dội, giống như là lửa trắng đốt cháy. Nó giảm đi, mất, và được thay thế bởI những cuộn xoáy của màu sắc, và những lọn khói sáng chói. Dụng cụ kim loạI được gỡ ra một cách cẩn thận. Mảnh gỗ vẫn được giữ lạI, nó vẫn ở nơi đó trong vòng hai đến ba tuần và cho đến khi nó được gỡ ra tôi vẫn phảI ở lạI trong căn phòng nhỏ này hầu như là trong bóng tối. Không một ai có thể đến thăm tôi ngoạI trừ ba vị lama này, những ngườI sẽ tiếp tục hướng dẫn theo dõi tôi từng ngày. Cho đến khi mảnh gỗ được gỡ ra tôi sẽ chỉ có những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn và uống. Khi mảnh gỗ nhô ra ngoài được buộc lạI ở một chỗ để nó khỏI di chuyển, vị Lama Mingyar Dondup quay về phía tôi và nói: “Con bây giờ là một trong những ngườI giữa chúng ta, Lobsang. Cho đến hết phần còn lạI của cuộc đờI con sẽ nhìn con ngườI như là bản chất thật sự của họ chứ không phảI như là những gì họ giả vờ.” Đó thật sự là một kinh nghiệm lạ lùng khi thấy những ngườI đàn ông này một cách rõ ràng là được bao phủ trong quầng sáng màu vàng. Chỉ cho đến mãi sau này tôi mớI nhận ra rằng aura của họ có màu vàng sáng vì cuộc sống thanh bạch mà họ đang sống, và rằng đa số mọI ngườI khác đều trông rất thật sự khác biệt.
Khi những giác quan vừa mớI tìm ra này đang phát triển dướI sự chăm sóc khéo léo của các vị lama tôi đã có thể quan sát rằng có những phát xạ khác kéo dài xa hơn những aura ở tận trong cùng. Theo thờI gian tôi đã có thể xác định được trạng thái sức khoẻ của một ngườI bằng cách đọc màu sắc và cường độ của aura. Tôi cũng có khả năng biết được khi họ đang nói lên sự thật, hay là ngược lạI, bằng cách nhìn vào dao động của các màu sắc. Nhưng không chỉ cơ thể con ngườI là đốI tượng cho sự nhìn xuyên thấu của tôi. Tôi được đưa cho một quả cầu thạch anh, mà tôi vẫn còn giữ, và nhờ vào sử dụng nó mà tôi có rất nhiều thực tập. Không có gì là huyền thuật cả trong việc nhìn vào những quả cầu thạch anh. Chúng chỉ đơn thuần là những dụng cụ. Cũng giống như là một kính hiển vi, hay là một kính viễn vọng, có thể đem những vật bình thường là không nhìn thấy được vào tầm nhìn bằng cách sử dụng các luật lệ tự nhiên, nhìn chăm chú vào quả cầu thạch anh cũng giống như vậy. Nó chỉ phục vụ như là một kính hộI tụ cho Con mắt Thứ ba, vớI một cái như vậy ngườI ta có thể xuyên vào tiềm thức của bất kì ngườI nào và giữ lạI trí nhớ về những sự kiện lượm lặt được. Quả cầu thạch anh phảI thích hợp cho từng cá nhân sử dụng. Một số ngườI làm việc tốt nhất vớI một viên đá thạch anh, những ngườI khác thích một quả cầu thuỷ tinh hơn. Thế nhưng những ngườI khác sử dụng một chén nước hay là một đĩa đen tuyền. Bất kể là họ sử dụng thứ gì, những quy luật liên quan là như nhau.
Trong tuần đầu tiên căn phòng được giữ trong hầu như là bóng tốI hoàn toàn. Tuần theo sau đó chỉ là một tia sáng nhỏ được cho phép lọt vào, lượng sáng được tăng dần khi thờI hạn cuốI tuần đến gần. Vào ngày thứ bảy căn phòng tràn ngập ánh sáng, và ba vị lama đi đến cùng nhau và gỡ bỏ mảnh gỗ. Điều đó rất là đơn giản. Đêm hôm trước đó trán của tôi đã được đắp đầy các thuốc xức từ dược thảo. Vào buổI sáng những vị lama đi đến và, như là trước đó, một ngườI đặt đầu của tôi vào giữa hai đầu gốI của ông ta. NgườI giảI phẫu lấy đầu nhô ra của mảnh gỗ vớI một dụng cụ. Có một cú xóc sắc cạnh – và đó là tất cả những gì đã có lúc đó. Mảnh gỗ được lấy ra. Vị Lama Mingyar Dondup đặt một mảng dược thảo lên trên một đốm rất nhỏ còn lạI, và đưa cho tôi xem mảnh gỗ. Nó đã trở thành đen như là gỗ mun khi ở trong đầu tôi. Vị lama giảI phẫu quay về một lò than nhỏ và đặt mảnh gỗ lên đó cùng vớI một số hương liệu của nhiều loại. Khi ngọn khói tổng hợp thoảng đưa lên trần nhà, cũng là lúc mà giai đoạn đầu tiên của sự khai tâm của tôi chấm dứt. Đêm hôm đó tôi trôi vào giấc ngủ vớI đầu tôi trong một trận quay cuồng; lão Tzu sẽ giống như thế nào khi bây giờ tôi đã nhìn khác đi? Cha tôi, mẹ tôi, họ sẽ xuất hiện như thế nào? Nhưng chưa có câu trả lờI cho những câu hỏI đó.
Vào buổI sáng những lama lạI đến và khám tôi một cách cẩn thận. Họ nói rằng tôi bây giờ có thể đi ra ngoài vớI những ngườI khác, nhưng bảo vớI tôi rằng là một phân nửa thờI gian của tôi phảI được dành cho Lama Mingyar Dondup, ngườI sẽ dạy cho tôi bằng những phương pháp chuyên sâu. Phần nửa còn lạI của thờI gian của tôi sẽ được dàn trảI cho các buổI lên lớp và các buổI lễ, không quá nhiều cho mặt giáo dục, nhưng để cho tôi một cái nhìn cân bằng bằng cách trộn lẫn vớI nhau. Một thờI gian ít lâu sau đó tôi sẽ cũng được dạy bằng các phương pháp thôi miên. Vào thờI điểm này tôi chủ yếu là chỉ thích thức ăn. Trong mườI tám ngày qua tôi đã được giữ trong chế độ vớI một lượng thức ăn rất ít, bây giờ tôi dự định ăn bù những ngày đó. Đi ra về phía cửa tôi vộI vã, chủ ý về ý định đó mà thôi. Tiến gần lạI về phía tôi là một nhân vật được bao phủ trong một làn khói xanh lục, bắn xuyên qua đó là những đốm đỏ giận dữ. Tôi thốt ra một tiếng thét báo động và chạy nhanh trở lạI ngay vào phòng. Những ngườI khác nhìn vào những cử chỉ hoảng sợ của tôi. “Có một ngườI đàn ông đang bốc cháy trong hành lang,” tôi nói. Vị Lama Mingyar Dondup vộI chạy ra và quay lạI vào trong mỉm cười. “Lobsang, đó là một ngườI quét dọn đang trong tâm trạng cáu kỉnh. Aura của ông ta có dạng khói xanh lục bởI vì ông ta chưa tiến bộ, và những đốm sáng đỏ là những xung động của cơn giận làm lộ ra. Bây giờ con có thể đi ra ngoài lạI và đi tìm thức ăn mà con đang rất muốn.”
Thật là hấp dẫn khi gặp lạI những cậu bé mà tôi biết rất rõ, nhưng đã không biết tất cả mọI thứ. Bây giờ tôi có thể nhìn bọn họ và cảm nhận được những ý nghĩ thực sự của họ, sự thích tôi thực sự, sự ghen tỵ từ một số khác, và sự thờ ơ từ một số khác nữa. Đó không đơn giản là việc nhìn ra những màu sắc và biết được tất cả; tôi phảI được huấn luyện để hiểu những màu sắc đó có nghĩa là gì. NgườI Hướng dẫn tôi và tôi ngồI vào trong một hốc tường cách biệt nơi mà chúng tôi có thể nhìn thấy những ngườI đang đi vào cổng chính. Vị Lama Mingyar Dondup sẽ nói: “NgườI đang đi đến, Lobsang, con có thấy dảI màu đang rung động phía bên trên trái tim của ông ta? Hình dạng và sự rung động biểu lộ rằng ông ta đang bị bệnh phổI”, hoặc là, có lẽ là tạI một ngườI thương gia đang tiến lạI: “Nhìn về phía ngườI này, nhìn những dảI màu đang luân phiên thay đổI, những đốm gián đoạn lúc có lúc không. NgườI anh lái buôn đang nghĩ rằng anh ta có khả năng đánh lừa những nhà sư ngu ngốc, Lobsang, anh ta đang nhớ lạI là anh ta làm được như vậy một lần trước đó. Đến việc hèn hạ nhỏ mọn như vậy ngườI ta có thể hạ mình mà làm vì tiền!” Khi một nhà sư già đang tiến lạI, vị Lama nói: “Hãy nhìn vị này một cách cẩn thận, Lobsang. Đây thực sự là một ngườI đàn ông sùng đạo, nhưng là một ngườI tin vào từng từ một theo nghĩa đen sự chính xác của những Bộ Kinh Thiêng của chúng ta. Con có quan sát thấy những sự bạc màu trong màu vàng của vầng hào quang của ông ta? Điều đó biểu lộ rằng là ông ta đã không tiến hoá cao đến mức đủ để tự suy luận cho bản thân ông ta.” Cứ như vậy điều đó tiếp tục, ngày này qua ngày khác. Đặc biệt đốI vớI những ngườI bị bệnh chúng tôi đã sử dụng quyền năng của Con mắt Thứ ba, cho những ngườI bị bệnh về thể xác hoặc là bị bệnh về mặt tâm linh. Một buổI chiều vị Lama nói: “Sau này chúng ta sẽ chỉ cho con làm thế nào để đóng Con mắt Thứ ba lạI tuỳ ý muốn, bởI vì con sẽ không muốn nhìn thấy những tính xấu của ngườI ta trong mọI lúc, bởI vì đó sẽ là một gánh nặng không thể nào chịu được. Trong thờI điểm hiện nay con hãy dùng nó trong mọI lúc, giống như là con làm đốI vớI con mắt tự nhiên của con. Sau đó chúng ta sẽ huấn luyện cho con để đóng nó và mở nó tuỳ ý muốn như là con có thể làm đốI vớI những con mắt khác.”
Rất nhiều năm về trước, theo như những truyền thuyết của chúng tôi, tất cả đàn ông và đàn bà đều có khả năng sử dụng Con mắt Thứ ba. Trong những ngày đó những vị thần linh đi lạI trên Trái Đất và trộn lẫn vớI những con người. Con ngườI đã có những âm mưu thay thế những vị thần linh và cố gắng giết họ đi, quên đi rằng những gì mà Con ngườI có thể nhìn thấy những vị thần linh có thể thấy được tốt hơn. Như là một sự trừng phạt, Con mắt Thứ ba đã bị đóng lại. TrảI qua nhiều thờI đạI chỉ một vài ngườI là được sinh ra vớI khả năng nhìn xuyên suốt những thứ vô hình; những ngườI có nó một cách tự nhiên có thể làm tăng cường quyền năng của nó một ngàn lần bằng những phương pháp thích hợp, như là tôi đã được làm phẫu thuật. Vì là một tài năng đặc biệt nó phảI được đốI xử bằng sự quan tâm và tôn trọng. Vị Hoà thượng Viện chủ vào một ngày kia gọI tôi lên và nói: “Con của ta, con bây giờ có khả năng này, một khả năng đã bị từ chốI cho hầu hết mọI người. Sử dụng nó chỉ cho mục đích tốt, không bao giờ cho lợI ích cá nhân. Khi con đi bôn ba trong những nước khác con sẽ gặp những ngườI mà họ sẽ muốn con ứng xử như là một pháp sư ảo thuật trong một hộI chợ. ‘Hãy chứng tỏ cho chúng tôi điều này, hãy chứng tỏ cho chúng tôi điều kia’, họ sẽ nói. Nhưng ta nói, con của ta, điều đó là không được phép. Tài năng này là để cho con có khả năng giúp đỡ những ngườI khác, chứ không phảI là để cho con tự làm giàu cho chính mình. Bất cứ thứ gì mà con có thể thấy bởI sự nhìn xuyên thấu những cái vô hình – và con sẽ nhìn thấy được rất nhiều thứ như vậy! – không được tiết lộ ra điều đó nếu như nó sẽ làm hạI những ngườI khác hay là làm ảnh hưởng đến Con đường của họ đi qua Cuộc đời. BởI vì Con NgườI phảI chọn lựa con đường riêng của anh ta, con của ta, hãy nói vớI anh ta những gì con sẽ muốn nói, anh ta vẫn đi theo con đường của riêng anh ta. Giúp đỡ trong lúc bệnh tật, trong lúc đau khổ, đúng, nhưng đừng nói lên những gì mà nó có thể làm thay đổI Con đường của một người.” Vị Hoà thượng Viện chủ là một ngườI đàn ông rất uyên thâm và đã từng là bác sỹ chăm sóc cho Đức Dalai Lama. Trước khi kết thúc cuộc phỏng vấn này ông ta nói vớI tôi rằng chỉ trong vòng một vài ngày tôi sẽ được gửI đến thăm Đức Dalai Lama ngườI muốn gặp tôi. Tôi sẽ là khách viếng thăm điện Potala trong vòng một vài tuần tớI cùng vớI Lama Mingyar Dondup.
![]() |
Filed under: The Third Eye
Chương 6
Cuộc sống ở trong tu viện
Hai tuần trôi qua và cơ thể bị bỏng của tôi đã trở nên bình phục hơn lúc trước. Chân tôi vẫn còn nhiều điều phiền phức nhưng tốI thiểu nó có tiến bộ. Tôi hỏI liệu là tôi có thể tiếp tục các thủ tục như bình thường bởI vì tôi muốn di chuyển xung quanh nhiều hơn. MọI ngườI đồng ý là tôi nên, nhưng tôi được cho phép ngồI bất kì kiểu nào mà tôi có thể, hoặc nằm úp trên mặt tôi. Những ngườI Tây Tạng ngồI xếp bằng trong tư thế chúng tôi gọI là tư thế hoa sen, nhưng vết thương trên chân tôi hoàn toàn ngăn chặn tôi làm điều đó.
Vào buổI chiều đầu tiên của sự quay trở lạI của tôi có một số việc phảI làm trong các bếp. Công việc của tôi là cầm một bảng đá và kiểm tra theo dõi con số của các túi lúa mạch được nướng. Lúa mạch được trảI ra trên một nền đá được hun khói nóng. Bên dướI là lò lửa mà tôi đã bị bỏng. Lúa mạch được trảI đều ra, và cánh cửa đóng lại. Trong khi đống lúa đó đang nướng chúng tôi lũ lượt đi dọc theo một hành lang đến một phòng nơi mà chúng tôi đập vỡ lúa mạch đã được nướng trước đó. Có một cái chậu bằng đá thô, hình nón và khoảng tám feet rộng ở nơi rộng nhất. Mặt bên trong được soi rãnh và làm nhám để giữ các hạt lúa mạch. Một viên đá lớn, cũng có hình nón, được sắp một cách lỏng lẻo vào chậu. Nó được đỡ bằng một cái xà sờn cũ vớI năm tháng xuyên qua nó, và xuyên vào đó là những thanh nhỏ hơn giống như là những nan hoa của một bánh xe không có vành. Lúa mạch nướng được tuôn vào trong chậu, và những nhà sư và những chú bé cố sức đẩy những nan hoa để xoay tảng đá, mà nó nặng đến mấy tấn. Một khi nó đã bắt đầu xoay nó không đến nỗI tệ, sau đó chúng tôi lũ lượt đi vòng quanh ca lên những bài hát. Tôi có thể hát nơi này mà không bị khiển trách! Làm chuyển động tảng đá khốn khổ thật là tệ hại. Tất cả mọI ngườI đều phảI góp một tay để làm di chuyển nó. Sau đó, một khi nó đã di chuyển, một sự cẩn trọng hết sức phảI được thi hành để bảo đảm là nó không dừng lại. Những nguồn cung cấp mớI của lúa mạch nướng được đổ vào trong khi những hạt được nghiền nát rơi ra từ đáy của cái chậu. Tất cả các lúa mạch đã được nghiền vỡ được đem đi, rảI ra trên những tảng đá nóng, và được nướng lạI một lần nữa. Đó là thành phần cơ bản của tsampa. MỗI đứa trong chúng tôi đem theo một tuần dự trữ tsampa trên ngườI chúng tôi hay là, một cách đúng đắn hơn, chúng tôi đem theo những hạt lúa mạch đã được nướng và nghiền nát trên ngườI chúng tôi. Vào lúc đến bữa ăn chúng tôi trút ra một ít từ những túi da của chúng tôi vào trong những cái chén. Sau đó chúng tôi sẽ thêm vào đó trà bơ, khuấy vớI những ngón tay chúng tôi cho đến khi cả khốI giống như là bột nhào, sau đó chúng tôi sẽ ăn nó.
Trong ngày kế tiếp chúng tôi phảI làm việc giúp đỡ cho việc làm trà. Chúng tôi đi đến một phần khác của bếp nơi mà có một cái vạc có thể chứa đến một trăm và năm mươi gallon. Cái vạc này đã được cọ rửa sạch bằng cát và bây giờ sáng lên như là kim loạI mới. Sớm hơn trong ngày nó đã được làm đầy tớI phân nửa bởI nước, và khốI nước này đang sôi và bốc hơi. Chúng tôi phảI lấy ra những tảng trà và làm nát chúng. MỗI tảng trà vào khoảng mườI bốn đến mườI sáu pound trọng lượng và chúng được đem tớI Lhasa qua những núi đèo từ Trung Quốc và Ấn Độ. Những mảnh được xé nhỏ ra được thảy vào nước đang sôi. Một nhà sư sẽ thêm vào đó một tảng muốI lớn, và một ngườI khác sẽ bỏ vào đấy một lượng soda. Khi mọI thứ sẽ sôi lên một lần nữa, những xẻng đầy của bơ được lọc sạch sẽ được thêm vào và toàn bộ hỗn hợp sẽ sôi trong nhiều giờ. Hỗn hợp này có một giá trị thức ăn rất tốt và khi dùng vớI tsampa thì là khá đủ để duy trì sự sống. Trong mọI lúc trà được giữ nóng, và khi một vạc được dùng hết, một vạc khác được làm đầy và được chuẩn bị. Phần tệ hạI nhất của sự chuẩn bị này là trông nom những ngọn lửa. Thứ phân yak mà chúng tôi sử dụng thay cho củI như là nhiên liệu đốt được làm khô thành dạng những phiến và có gần như là một nguồn cung cấp chúng không bao giờ cạn. Khi được đặt vào những đống lửa chúng gửI ra những đám mây có mùi nồng nặc, vớI khói cay sè. Tất cả mọI thứ trong tầm khói sẽ dần dần trở nên đen xạm đi, những thứ đồ gỗ sẽ cuốI cùng đen như gỗ mun, và những cái mặt phơi ra dướI khói trong thờI gian dài sẽ trở nên cáu bẩn bởI những lỗ chân lông phủ đầy khói.
Chúng tôi phảI giúp đỡ vớI tất cả những thứ công việc dành cho đầy tớ này, không phảI bởI vì có một sự thiếu hụt của sự lao động, nhưng để cho không nên có quá nhiều sự phân biệt giai cấp. Chúng tôi tin rằng kẻ thù duy nhất là ngườI mà bạn không biết; làm việc bên cạnh một ngườI, nói chuyện vớI anh ta, biết anh ta, và anh ta sẽ ngưng không còn là một kẻ thù nữa. Ở Tây Tạng, trong một ngày trong mỗI năm, những ngườI cầm quyền để những quyền lực của họ ra một bên, và sau đó bất kì một ngườI dướI quyền nào cũng có thể nói chính xác những điều mà họ suy nghĩ. Nếu như một hoà thượng viện chủ đã nghiêm khắc trong suốt năm đó, ông ta sẽ được nói cho nghe về điều đó, và nếu như sự chỉ trích là công bằng, không một hành động nào được đưa ra chống lạI ngườI cấp dưới. Đó là một hệ thống đã làm việc khá là tốt và hiếm khi bị lạm dụng. Nó cung cấp một phương tiện của sự công bằng chống lạI những ngườI có quyền lực, và cho phép những ngườI cấp dướI một cảm giác là họ rốt cục có một tiếng nói nào đó.
Có rất nhiều thứ sẽ được tu học trong các lớp học. Chúng tôi ngồI thành những hàng trên nền nhà. Khi ngườI thầy giáo đang giảng bài cho chúng tôi, hay là đang viết lên bảng trên tường, ông ta đứng trước mặt chúng tôi. Nhưng khi chúng tôi đang làm bài tập, ông ta đi vòng về sau lưng của chúng tôi và chúng tôi phảI làm việc hăng hái trong mọI lúc bởI vì chúng tôi không biết là ai trong chúng tôi đang bị theo dõi! Ông ta mang theo một cây gậy khá lớn và không do dự sử dụng nó trên bất kì phần nào của chúng tôi trong tầm vớI tớI ngay lập tức. Vai, tay, lưng hay là những nơi chính thống hơn – nó không có nghĩa lý gì cả đốI vớI ngườI thầy giáo, một nơi cũng tốt như là những nơi khác.
Chúng tôi học rất nhiều toán,bởI vì đó là một môn học quan trọng cho công việc chiêm tinh thuật. Môn chiêm tinh không đơn giản là công việc trúng-hay-trật, nhưng được tính toán ra theo những quy luật khoa học. Tôi được nhồI vào đầu nhiều thứ chiêm tinh thuật bởI vì nó là cần thiết để sử dụng trong công việc y học. Điều tốt hơn là chữa bệnh một ngườI một cách thích hợp vớI tử vi của họ hơn là đưa ra một thứ gì đó khá là lung tung vớI hy vọng là khi nó một khi đã chữa được một ngườI, nó có thể tái phát trở lại. Có những sơ đồ lớn treo trên tường nói về chiêm tinh thuật, và những thứ khác đưa ra những bức ảnh của các loạI dược thảo khác nhau. Các bức ảnh này được thay đổI hàng tuần và chúng tôi được mong đợI là hoàn toàn quen thuộc vớI dáng vẻ của tất cả các loạI cây đó. Sau này chúng tôi sẽ được dẫn đi trong những chuyến tham quan để thu thập và chuẩn bị những thứ dược thảo này, nhưng chúng tôi không được phép đi theo những chuyến tham quan đó cho đến khi chúng tôi có một kiến thức sâu sắc hơn và có thể được tin tưởng để nhặt lấy những tổ hợp đúng. Những chuyến tham quan “thu nhặt dược thảo” này, vào mùa thu trong năm, là một kì nghỉ ngơi rất phổ biến khỏI cuộc sống theo những nghi thức nghiêm
khắc của tu viện. Đôi lúc một chuyến đi thăm như thế này có thể kéo dài đến ba tháng, và sẽ đưa ngườI ta đến những cao nguyên, một vùng đóng băng xung quanh, hai mươi đến hai mươi lăm ngàn feet bên trên mặt biển, nơi những tảng băng lớn bị chia cắt đứt đoạn bởI những thung lũng xanh được sưởI ấm bởI những suốI nước nóng. Nơi này ngườI ta có thể có những kinh nghiệm không thể sánh được bởI bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Trong khi di chuyển khoảng năm mươi yard ngườI ta có thể trảI qua một khoảng từ nhiệt độ bốn mươi dướI không cho đến một trăm hoặc hơn độ Fahrenheit trên mức không. Khu vực này là khá chưa được khám phá ngoạI trừ một số ít các thầy tu chúng tôi.
Những điều răn dạy của tôn giáo của chúng tôi khá là khắt khe; mỗI buổI sáng chúng tôi phảI đọc các luật lệ và các bước đi của con đường Trung Đạo. Những luật lệ này là:
1. Có niềm tin vào những ngườI lãnh đạo của tu viện và của đất nước.
2. Thực hành các nghi lễ tôn giáo, và học hành chăm chỉ.
3. Kính trọng cha mẹ.
4. Tôn trọng những đạo đức tốt.
5. Kính trọng những ngườI lớn tuổI và những ngườI sinh ra ở thứ bậc cao.
6. Giúp đỡ đất nước.
7. Thật thà và nói đúng sự thật trong tất cả mọI thứ.
8. Chú ý đến bạn bè và những ngườI bà con thân thuộc.
9. Sử dụng vớI cách tốt nhất thức ăn và tài sản.
10. Đi theo gương của những ngườI tốt.
11. Tỏ lòng biết ơn và đáp lạI lòng tốt.
12. Đưa ra cách đánh giá công bằng trong mọI việc.
13. LoạI bỏ sự ghanh ghét và tỵ hiềm.
14. Kiềm chế sự gièm pha, nói xấu.
15. Nhẹ nhàng trong lờI ăn tiếng nói và hành động và không làm hạI ai.
16. Chịu đựng sự đau khổ vớI sự kiên nhẫn và ngoan ngoãn.
Chúng tôi một cách thường xuyên được nhắc rằng nếu như tất cả mọI ngườI đều tuân theo những luật lệ đó, sẽ không có sự xung đột hay là bất hoà. Tu viện của chúng tôi nổI tiếng vớI sự khổ hạnh và sự huấn luyện nghiêm khắc. Một số lượng lớn các nhà sư đã đến từ các tu viện khác và sau đó ra đi trong việc tìm kiếm những điều kiện nhẹ nhàng hơn. Chúng tôi nhìn họ như là những kẻ thất bạI và nhìn chúng tôi như là thành phần ưu tú. Rất nhiều tu viện khác không có những nghi lễ về đêm; những nhà sư đi ngủ vào buổI tốI cho đến bình minh ngày hôm sau. ĐốI vớI chúng tôi họ có vẻ mềm yếu và bất lực, và mặc dù cho chúng tôi than phiền giữa những ngườI trong chúng tôi, chúng tôi vẫn sẽ than phiền nhiều hơn nếu như thờI gian biểu của chúng tôi bị thay đổI để đưa chúng tôi đến mức độ không hiệu quả của những ngườI khác. Năm đầu tiên thực sự là khó khăn. Sau đó là thờI gian loạI trừ ra những kẻ thất bại. Chỉ có những ngườI khoẻ mạnh nhất có thể sống sót cho những chuyến đi thăm đến những cao nguyên đóng băng trong việc đi tìm các loạI dược thảo, và chúng tôi tạI Chakpori là những ngườI duy nhất đi đến những nơi đó. Một cách khôn ngoan những ngườI lãnh đạo của chúng tôi quyết định loạI bỏ những ngườI không thích hợp trước khi họ có thể bằng cách nào đó làm nguy hạI những ngườI khác. Trong suốt năm đầu tiên chúng tôi hầu như không có sự nghỉ ngơi, không có sự giảI trí và các trò chơi. Học và làm việc chiếm hết từng giây phút thức tỉnh.
Một trong những thứ mà tôi vẫn còn biết ơn là cách chúng tôi được dạy trong việc ghi nhớ. Đa số những ngườI Tây Tạng có những trí nhớ tốt, nhưng chúng tôi là những ngườI được huấn luyện để trở thành những nhà sư y học phảI biết những tên và các miêu tả chính xác của một số lượng rất lớn các loạI dược thảo, cũng như là biết bằng cách nào mà chúng có thể được kết hợp và sử dụng. Chúng tôi cũng phảI biết rất nhiều về chiêm tinh thuật, và có khả năng đọc lạI toàn bộ những cuốn sách thiêng liêng của chúng tôi. Một phương pháp huấn luyện bộ nhớ đã tiến hoá qua nhiều thế kỉ. Chúng tôi tưởng tượng ra rằng là chúng tôi đang ở trong một phòng sắp hàng vớI hàng ngàn hàng ngàn ngăn kéo. MỗI ngăn kéo được dán nhãn một cách rõ ràng, và những chữ viết trên các cái nhãn có thể được đọc một cách dễ dàng từ nơi mà chúng tôi đang đứng. MỗI sự việc chúng tôi được dạy bảo rằng phảI được phân loạI, và chúng tôi được hướng dẫn tưởng tượng ra rằng chúng tôi mở ra một ngăn kéo thích hợp và đặt sự kiện đó vào bên trong. Chúng tôi phảI hình tượng ra điều đó rất rõ ràng khi chúng tôi làm điều đó, hình tượng “sự việc” và vị trí chính xác của cái “ngăn kéo”. VớI một ít thực tập điều đó đơn giản một cách đáng kinh ngạc để — chỉ trong trí tưởng tượng — bước vào phòng, mở ra ngăn kéo đúng đắn, và lấy ra sự việc cần thiết cũng như là những sự việc có liên quan.
Những thầy giáo của chúng tôi tốn rất nhiều công sức để cố gắng thuyết phục sự cần thiết của một trí nhớ tốt. Họ có thể bắn ra những câu hỏI về phía chúng tôi chỉ đơn giản là để thử trí nhớ của chúng tôi. Những câu hỏI sẽ khá là không liên quan gì đến nhau để chúng tôi không thể đi theo một xu hướng và chọn con đường dễ dàng. Thông thường nó sẽ là những câu hỏI trên những trang sách ít ngườI biết đến của những cuốn sách thiêng liêng xen lẫn vớI những thắc mắc về dược thảo. Sự trừng phạt cho sự lãng quên là nặng nề nhất; quên là một tộI không thể nào tha thứ được và bị trừng phạt bằng cách đánh đòn nặng. Chúng tôi không được cho một thờI gian dài để cố gắng nhớ ra. NgườI thầy giáo có thể sẽ nói: “Chú bé kia, ta muốn biết dòng thứ năm của trang sách thứ mườI tám của tập thứ bảy của Kan-gyur, mở ngăn kéo ra, ngay bây giờ, đó là câu gì ?” NgoạI trừ ngườI ta có thể trả lờI trong vòng mườI giây nếu không được thì không nên trả lờI, bởI vì hình phạt sẽ là còn tệ hơn nếu như có bất kì một lỗI nào đó, bất kể là nhỏ nhặt như thế nào. Tuy nhiên, đó là một hệ thống tốt, và nó huấn luyện trí nhớ thật sự. Chúng tôi không thể mang theo những cuốn sách vớI các sự kiện. Những cuốn sách của chúng tôi thông thường là khoảng ba feet rộng và dài khoảng mườI tám inch, những tấm giấy lỏng lẻo được đặt không đóng lạI giữa hai bìa gỗ. Chắc chắn rằng tôi thấy rằng một trí nhớ tốt là thứ có giá trị nhất trong những năm sau này.
Trong suốt mườI hai tháng đầu tiên chúng tôi không được phép đi ra khỏI các sân của tu viện. Những ngườI rờI đi đã không được phép quay trở lại. Điều này là một luật lệ đặc biệt đốI vớI Chakpori, bởI vì kỉ luật là khắt khe cho đến nỗI mà ngườI ta sợ rằng nếu như chúng tôi được phép ra ngoài chúng tôi sẽ không nên quay lại. Tôi công nhận rằng tôi nên thử “chạy đi” nếu như tôi có một nơi nào khác để chạy đi. Sau năm đầu tiên chúng tôi làm quen vớI điều đó.
Năm đầu tiên chúng tôi không được phép chơi bất kì một thứ trò chơi nào cả, chúng tôi được giữ làm việc cật lực trọng mọI lúc và điều này là một cách hiệu quả nhất để gạt bỏ những ai yếu kém và không có khả năng chịu đựng sự căng thẳng. Sau những khó khăn đầu tiên này chúng tôi tìm thấy rằng chúng tôi đã gần như quên đi phảI chơi như thế nào. Những môn thể thao và thể dục của chúng tôi được thiết kế để làm chúng tôi cứng rắn hơn và sẽ có một vài sử dụng thực tế trong những năm tháng sau này của cuộc đời. Tôi vẫn giữ lạI sự yêu thích ngày xưa của tôi của việc đi trên cà kheo, và bây giờ tôi có thể dành ra một ít thờI gian cho nó. Chúng tôi bắt đầu bằng vớI những cây cà kheo mà chúng có thể nâng chân chúng tôi khỏI nền đất đến độ cao bằng độ cao của chúng tôi. Khi chúng tôi trở nên thông thạo hơn chúng tôi sử dụng những cà kheo dài hơn, thông thường cao vào khoảng mườI feet. Trên những thứ đó chúng tôi đi khệnh khạng vòng quanh sân nhà, nhìn xuyên qua những cửa sổ và nói chung là một mốI phiền toái của chính chúng tôi. Không một cột thăng bằng được sử dụng; khi chúng tôi muốn đứng yên tạI một nơi chúng tôi lúc lắc từ chân này sang chân kia như để là chúng tôi đang đếm thờI gian. Điều đó đã làm cho chúng tôi duy trì sự thăng bằng và vị trí của chúng tôi. Không có nguy cơ của việc rơi xuống nếu như ngườI ta cảnh giác một cách hợp lý. Chúng tôi đánh trận giả trên những cây cà kheo. Hai độI của chúng tôi, thông thường là mườI ngườI ở mỗI bên, sẽ sắp thành hàng cách nhau khoảng ba mươi yard, và sau đó khi một tín hiệu được đưa ra chúng tôi sẽ tấn công lẫn nhau, thốt lên những hò reo vang dộI được tính toán để xua đi những ma quỷ trên trời. Như là tôi đã nói, tôi ở trong một lớp của những chú bé to hơn và lớn tuổI hơn tôi. Điều này đã cho tôi một điểm thuận lợI khi xảy đến việc đánh nhau trên cà kheo. Những ngườI khác đi ngổn ngang một cách nặng nhọc, và tôi có thể kẹp vào lẫn trong bọn họ và kéo một cà kheo chỗ này và đẩy một cà kheo chỗ khác và như vậy gửI những ngườI cỡI ngã nhào. Trên lưng ngựa tôi không được tốt cho lắm, nhưng khi tôi phảI đứng lên hay ngã xuống trên những tiềm lực của chính tôi, tôi có thể làm được bằng cách của tôi.
Một cách sử dụng khác của cà kheo, cho những cậu bé chúng tôi, là khi chúng tôi băng ngang qua những dòng suối. Chúng tôi có thể lộI qua một cách cẩn thận và tiết kiệm được một quãng đường vòng cho đến chỗ cạn gần nhất. Tôi nhớ lạI một lần tôi đang đi nhẹ nhàng thong thả dọc trên những cây cà kheo sáu feet. Một dòng suốI đang ở trên đường và tôi muốn băng ngang qua. Mức nước khá sâu ngay từ bờ suốI, không có một phần nào cạn cả. Tôi ngồI trên bờ và hạ hai chân cà kheo của tôi xuống. Nước tràn đến đầu gốI của tôi, khi tôi đi ra đến giữa dòng nó dâng lên gần đến thắt lưng của tôi. Chỉ ngay lúc đó tôi nghe tiếng bước chân đang chạy lại. Một ngườI đàn ông đang vộI vã dọc theo con đường và đưa ra một cái liếc chẳng đếm xỉa gì đến một chú bé con đang băng ngang dòng nước. Hiển nhiên, thấy rằng dòng nước đã không lên được thắt lưng của tôi, anh ta nghĩ: “Ah! Đây là một nơi nông cạn.” Có một tiếng nước bắn tung toé một cách đột ngột, và ngườI đàn ông biến mất hoàn toàn. Sau đó có một sự náo động của mặt nước, và đầu của ngườI đàn ông nổI lên mặt nước, đôi tay nắm chặt của anh ta đạt đến bờ suốI, và anh ta tự kéo mình lên mặt đất. Ngôn ngữ của anh ta thật sự là khủng khiếp, và những lờI hăm doạ của những thứ mà anh ta sẽ làm cho tôi gần như đã làm máu của tôi đông lại. Tôi vộI vã đi khỏI bờ phía xa và khi tôi cũng đạt được đến bờ, tôi nghĩ rằng là tôi đã chưa bao giờ từ trước đến giờ đi nhanh như thế trên cà kheo.
Một nguy hiểm của cà kheo là gió mà chúng dường như luôn luôn thổI qua Tây Tạng. Chúng tôi có thể đang chơi đùa trong sân, trên cà kheo, và trong sự sôi nổI của trò chơi chúng tôi có thể quên đi những con gió và sảI chân vượt qua khỏI bức tường che chắn. Một cơn gió mạnh có thể cuồn cuộn vòng quanh áo quần của chúng tôi và chúng tôi sẽ đổ nhào, một mớ lộn xộn của tay, chân, và những cây cà kheo. Có rất ít các chấn thương. Việc học của chúng tôi về judo đã dạy chúng tôi phảI ngã như thế nào mà không bị xây xước gì cả. Thường là chúng tôi sẽ có những vết bầm và những đầu gốI bị xước, nhưng chúng tôi mặc kệ những thứ nhỏ nhặt đó. Dĩ nhiên có một số đứa gần như là ngã lên cái bóng của chúng, một số đứa bé vụng về không bao giờ học cách ngã sấp và chúng đôi khi phảI duy trì một cái chân hay một cái tay gãy.
Có một cậu bé đi về phía trước theo trên cà kheo của cậu ta và sau đó quay lộn một vòng giữa các cây nạng. Cậu ta có vẻ như là cầm một đầu của cà kheo, đưa chân ra khỏI bước đi, và tự xoay xung quanh trong một vòng tròn hoàn toàn. Lên phía trên sẽ là hai chân của cậu ta, thẳng qua đầu cậu, và xuống để tìm những nơi dừng trong mỗI lần. Cậu ta làm điều đó hết lần này đến lần khác, gần như là không bao giờ lỡ một bước, hay là phá đi nhịp bước của cậu ta. Tôi có thể nhảy trên cà kheo, nhưng trong lần đầu tiên tôi làm điều đó tôi đã hạ xuống một cách nặng nhọc, hai bước trượt về phía phảI và tôi đã làm một cú hạ xuống vộI vã. Sau đó tôi muốn cho chắc chắn là những bước để chân của cà kheo được buộc chặt.
Chỉ ngay khi trước lần sinh nhật thứ tám của tôi, Lama Mingyar Dondup bảo vớI tôi rằng những nhà chiêm tinh gia đã dự đoán rằng ngày theo sau ngày sinh nhật của tôi sẽ là một thờI điểm tốt để “mở ra Con mắt Thứ ba”. Điều này không làm tôi buồn phiền gì lắm, tôi biết là ông ta sẽ ở đó, và tôi có hoàn toàn niềm tin vào ông ta. Như là ông ta đã thường nói vớI tôi, vớI Con mắt Thứ ba được mở ra, tôi sẽ có khả năng thấy được con ngườI vớI bản chất thực sự của họ. ĐốI vớI chúng tôi thân xác chỉ là một vỏ bọc được làm hoạt động bởI một cơ thể lớn hơn, thể Bề Trên (Overself) chiếm quyền điều khiển khi một ngườI đi ngủ, hay là khi anh ta rờI bỏ sự sống này. Chúng tôi tin rằng Con NgườI được đặt vững chắc vào cơ thể vật chất để mà anh ta có thể học những bài học và tiến bộ. Trong suốt giấc ngủ Con NgườI trở về một cõi tồn tạI khác. Anh ta nằm xuống ngủ, và linh hồn sẽ tự rờI khỏI cơ thể vật chất và trôi đi khi giấc ngủ tới. Linh hồn được giữ liên lạc vớI cơ thể vật chất bởI một “sợI dây bạc” mà nó luôn luôn ở đó cho đến khi giây phút chết. Những giấc mơ mà một ngườI có là những kinh nghiệm trảI qua của linh hồn trong cõi mộng. Khi linh hồn trở lạI thể xác, cú giật mạnh của sự thức giấc làm xuyên tạc trí nhớ về giấc mơ, ngoạI trừ một ngườI đã trảI qua một sự huấn luyện đặc biệt, và do vậy “giấc mơ” có thể xuất hiện như là những điều điên rồ không thể nào xảy ra đốI vớI một ngườI ở trong trạng thái thức. Nhưng điều này sẽ được đề cập đến một cách đầy đủ hơn sau này khi tôi kể ra những kinh nghiệm của bản thân tôi đốI vớI sự việc liên quan này.
Quầng aura bao phủ khắp cơ thể, và bất kì một ai cũng có thể được dạy để có thể nhìn thấy dướI một số điều kiện nhất định, chỉ đơn thuần là sự phản chiếu của Lực Sống (Life Force) đang cháy bập bùng ở bên trong cơ thể. Chúng tôi tin rằng lực đó là giống như lực điện, cũng giống như (điện ở trong) tia chớp. Bây giờ, ở phương Tây, những nhà khoa học có thể đo đạc và ghi lạI được “sóng điện não”. Những ngườI chế giễu về những thứ như thế nên ghi nhớ điều này và cũng nên ghi nhớ hào quang (corona) xung quanh mặt trời. Nơi này những lưỡI lửa có thể phun ra đến hàng triệu dặm từ đĩa mặt trời. NgườI trung bình không thể thấy hào quang này, nhưng đôi lúc vào khi nhật thực toàn phần xảy ra nó có thể được nhìn thấy bởI bất kì ai quan tâm nhìn về phía đó. Thật ra chẳng có vấn đề gì trong việc ngườI ta tin hay không tin. Sự không tin tưởng sẽ không làm tắt đi hào quang của mặt trờI. Nó vẫn còn ở đó. Cũng như vậy đốI vớI aura của con người. Chính là aura này, cùng vớI một số thứ khác, mà tôi sẽ có khả năng nhìn thấy khi Con mắt Thứ ba được mở ra.
Filed under: The Third Eye
Chương 5
Cuộc sống như là một Chela
“Ngày” của chúng tôi bắt đầu vào nửa đêm tạI Chakpori. Khi tiếng kèn trumpet nửa đêm vang lên, vang dộI qua những hành lang được chiếu sáng mờ mờ, chúng tôi lăn khỏI những tấm đệm một cách ngái ngủ và sờ soạng trong bóng tốI cho những áo quần của chúng tôi. Chúng tôi tất cả đều ngủ trần trụI, hệ thống thường thấy ở Tây Tạng nơi mà không có sự khiêm tốn giả tạo. VớI bộ quần áo được mặc vào, chúng tôi sẽ đi khỏI, cất vào những thứ đồ dùng cá nhân vào trong túi phía trước của áo chúng tôi. Đi xuống theo những đoạn hành lang chúng tôi sẽ làm huyên náo, không ở trong tâm trạng tốt đẹp vào giờ đó. Một phần của những lờI dạy của chúng tôi: “Tốt hơn hết là nghỉ ngơi vớI một đầu óc yên tĩnh hơn là ngồI như là Buddha và cầu nguyện khi giận dữ.” Ý nghĩ bất tôn kính thường xuyên của tôi là:”Vậy thì, tạI sao chúng tôi không được nghỉ ngơi vớI một đầu óc yên tĩnh? Trò diễn nửa đêm này làm tôi nổI giận!” Nhưng không một ai có thể cho tôi một câu trả lờI thoả đáng, và tôi phảI đi vớI những ngườI khác vào trong Sảnh đường Cầu Nguyện. Nơi đây có vô số các ngọn đèn bơ đang đấu tranh để toả ra những tia sáng xuyên qua những đám mây trôi bồng bềnh của khói nhang. Trong ánh sáng bập bùng, vớI sự di chuyển của các bóng mờ, những bức tượng linh thiêng khổng lồ dường như là trở nên sống động, cúi xuống và đu đưa như đáp lạI lờI khấn vái của chúng tôi.
Có hàng trăm nhà sư và những chú tiểu sẽ ngồI xếp bằng trên những đệm trên sàn nhà. Tất cả sẽ ngồI thành nhiều hàng dọc theo chiều dài của sảnh đường. MỗI cặp hai hàng ngồI đốI diện vớI nhau do đó hàng thứ nhất và hàng thứ hai quay mặt vào nhau, hàng thứ hai và hàng thứ ba quay lưng vào nhau, và cứ như vậy. Chúng tôi sẽ có những lờI tụng kinh và những bài thánh ca sử dụng các cung điệu đặc biệt bởI vì ở phương Đông chúng tôi nhận ra rằng những âm thanh có sức mạnh của nó. Chỉ giống như là một nốt nhạc có thể làm vỡ một cửa kính, cũng như vậy một tổ hợp các nốt nhạc xây dựng nên sức mạnh siêu hình. Cũng có những trích đọc từ bộ kinh Kan-gyur. Thật là một cảnh đầy ấn tượng khi thấy hàng trăm ngườI đàn ông trong những bộ áo choàng màu huyết dụ và những khăn choàng màu vàng, đu đưa và tụng kinh trong cùng một nhịp điệu đồng thanh, vớI những tiếng chuông bạc nhỏ kêu leng keng, và những tiếng trống đập rộn ràng. Những đám mây màu xanh của khói nhang cuộn lên và cuộn thành vòng xung quanh những đầu gốI của các vị thần, và dường như rất thường là mỗI lần như vậy, trong một ánh sáng không rõ, là một tượng này hay là tượng khác trong số các bức tượng đang nhìn chăm chăm về phía chúng tôi.
BuổI lễ sẽ kéo dài vào khoảng một giờ, sau đó chúng tôi sẽ quay về những đệm ngủ của chúng tôi cho đến bốn giờ sáng. Một buổI lễ khác sẽ bắt đầu vào khoảng bốn giờ mườI lăm. Vào lúc năm giờ sáng chúng tôi sẽ có bữa ăn đầu tiên của chúng tôi, gồm tsampa và trà bơ. Ngay cả trong bữa ăn này NgườI Đọc Kinh sẽ đọc đều đều những lờI kinh, và ngườI Giám thị sẽ canh chừng ngay cạnh ông ta. TạI bữa ăn này mọI mệnh lệnh hay thông tin đặc biệt sẽ được đưa ra. Đó có thể là một thứ gì đó được mong muốn từ Lhasa, và sau đó tạI bữa ăn sáng những tên tuổI của các nhà sư sẽ được gọI ra, đó là những ngườI sẽ đi lấy hay đi thu những hàng hoá. Họ cũng sẽ được đưa cho những sắp đặt đặc biệt để đi xa khỏI tu viện trong một thờI gian nào đó, và phảI vắng đi trong một số buổI lễ nào đó.
Vào sáu giờ chúng tôi sẽ tụ họp lạI trong những phòng học của chúng tôi để sẵn sàng cho buổI đầu tiên của ngày học. Luật thứ hai của Luật Tây Tạng là: “Bạn phảI thi hành các nghi lễ tôn giáo, và học tập.” Trong sự ngu tốI thờI bảy tuổI tôi không thể nào hiểu được tạI sao chúng tôi phảI vâng theo luật lệ đó, trong khi Luật thứ năm là,”Bạn phảI tôn trọng ngườI lớn tuổI, và những thuộc tầng lớp quý tộc”, được chưng diện ra và bị phá vỡ. Tất cả những kinh nghiệm của tôi đã dẫn tớI niềm tin là có một cái đó đáng xấu hổ trong việc “sinh ra thuộc tầng lớp quý tộc”. Chắc chắn là tôi đã bị làm nạn nhân của việc đó. Điều không xảy đến vớI tôi lúc đó là không phảI thứ bậc của việc sinh ra là quan trọng, mà là tính cách của ngườI đó mớI là điều liên quan.
Chúng tôi tham dự một buổI lễ khác vào chín giờ sáng, ngưng việc học hành của chúng tôi vào khoảng bốn mươi phút. Thật là một khoảng nghỉ ngơi đáng hoan nghênh, đôi lúc, nhưng chúng tôi phảI quay lạI lớp học một lần nữa vào lúc mườI giờ kém mườI lăm. Một môn học khác được bắt đầu sau đó, và chúng tôi phảI làm việc vớI nó cho đến một giờ chiều. Tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa được tự do để ăn; một buổI lễ kéo dài nửa tiếng đến trước và sau đó chúng tôi dùng trà bơ và tsampa. Một giờ lao động tay chân đi theo sau đó, để cho chúng tôi tập thể dục và để dạy cho chúng tôi sự khiêm tốn. Tôi dường như là thường không tập trung lắm trong những công việc rốI rắm hay là loạI công việc khó ưa nhất.
Ba giờ là thấy chúng tôi xúm lạI trong một giờ cho việc nghỉ ngơi bắt buộc; chúng tôi không được phép nói hay di chuyển, nhưng chỉ phảI nằm yên. Đây không phảI là một thờI gian thuận tiện bởI vì một giờ thì quá ngắn để ngủ và quá dài để nghỉ ngơi nhàn rỗi. Chúng tôi có thể nghĩ về nhiều thứ tốt hơn để làm! Vào lúc bốn giờ, sau cuộc nghỉ ngơi này, chúng tôi quay trở lạI việc học hành của chúng tôi. Đây là giai đoạn đáng sợ của một ngày, năm giờ mà không có một phút nghỉ ngơi nào cả, năm tiếng đồng hồ khi chúng tôi không thể rờI phòng cho một việc gì mà không bị những hình phạt nặng nhất. Những ngườI giáo viên của chúng tôi khá tự do vớI những cây gậy chắc khoẻ và một số trong bọn họ thi hành hình phạt trên kẻ phạm tộI vớI một niềm thích thú thật sự. Chỉ những đứa học trò bị sa vào thế cùng quẫn hay là liều lĩnh mớI xin “được tha” khi sự trừng phạt là không tránh khỏi.
Sự thả ra của chúng tôi đến vào lúc chín giờ tốI khi chúng tôi có bữa ăn cuốI cùng trong ngày. Một lần nữa bữa này chỉ là trà bơ và tsampa. Đôi lúc — chỉ đôi lúc – chúng tôi có các thứ rau quả. Thường đó có nghĩa là cây củ cảI được thái mỏng, hay là một số hạt đậu rất nhỏ. Chúng được ăn sống, nhưng vớI những thằng bé đói meo chúng tôi chúng là chấp nhận được. Trong một dịp khó quên, khi tôi được tám tuổI, chúng tôi có một số quả óc chó (walnut) ngâm rượu. Tôi đặc biệt thích chúng, vì thường được ăn chúng khi còn ở nhà. Bây giờ, một cách dạI dột, tôi cố gắng tìm một phương án trao đổI vớI một chú nhóc khác: hắn sẽ được cái áo choàng dự phòng của tôi để đánh đổI cho những quả óc ngâm rượu của hắn. NgườI Giám thị nghe thấy việc đó, và tôi bị gọI lên giữa sảnh đường và phảI thú nhận tộI lỗI của mình. Như là một sự trừng phạt cho sự “tham lam” tôi phảI chịu nhịn không được cung cấp thức ăn hay thức uống trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Cái áo choàng dự phòng của tôi bị lấy đi như thể là điều đó nói lên rằng là nó là vô ích đốI vớI tôi, “đã sẵn lòng đánh đổI nó cho những thứ không quan trọng”.
Vào lúc chín giờ ba mươi chúng tôi đi đến những đệm ngủ của chúng tôi, “giường” đốI vớI chúng tôi. Không một ai được trễ cho việc đi ngủ! Tôi nghĩ rằng những giờ dài lê thê sẽ giết chết tôi, tôi nghĩ rằng là tôi sẽ ngã gục xuống chết tạI bất kì lúc nào, hay là tôi sẽ trôi vào giấc ngủ và không bao giờ lạI thức dậy nữa. Ban đầu tôi, và những chú bé mớI khác, thường nấp trong trong những góc nhà để ngủ gật. Sau một khoảng thờI gian ngắn tôi trở nên quen vớI những giờ kéo dài và không để ý gì cả đến độ dài của ngày.
Đó chỉ vào khoảng trước sáu giờ vào buổI sáng khi mà, vớI sự giúp đỡ của chú bé đã đánh thức tôi dậy, tôi tìm thấy mình trước cửa phòng của Lama Mingyar Dondup. Mặc dù là tôi đã không gõ cửa, ông ta gọI tôi bước vào. Phòng của ông ta là một phòng rất trang nhã và có những bức tranh treo tường tuyệt vờI, một số trong chúng thật sự được sơn trên tường và những tranh khác được vẽ trên lụa và treo trên tường. Một vài tượng nhỏ trên những cái bàn thấp, chúng là những vị thần hay là nữ thần và được làm bằng ngọc bích, vàng, và cloisonné. Một Bánh Xe Luân HồI lớn cũng được treo trên tường. Vị lama đang ngồI trong tư thế hoa sen trên gốI và trước mặt ông ta, trên một cái bàn thấp, ông có một số lượng lớn các cuốn sách, một trong các cuốn đó ông ta đang nghiên cứu khi tôi bước vào.
“NgồI xuống đây vớI ta, Lobsang,” ông ta nói,”chúng ta có rất nhiều thứ để luận bàn cùng nhau, nhưng trước hết là một câu hỏI quan trọng cho một ngườI đàn ông đang lớn: con có đầy đủ thức ăn và thức uống hay là không?” Tôi khẳng định vớI ông ta tôi đầy đủ. “Vị Hoà Thượng Viện Chủ đã bảo rằng là chúng ta có thể làm việc cùng nhau. Ta đã dò tìm được kiếp sống trước của con và đó đã là một kiếp sống tốt. Bây giờ ta muốn phát triển lạI một số quyền năng và khả năng mà con đã có từ trước. Trong khoảng thờI gian chỉ một vài năm ta muốn con có nhiều kiến thức hơn là một vị lama có được trong một đờI sống rất dài.” Ông dừng lạI, và nhìn tôi lâu và nghiêm khắc. Đôi mắt của ông ta rất sắc sảo. “Tất cả mọI ngườI đều phảI được tự do trong việc chọn lựa con đường riêng của họ,” ông nói tiếp,”con đường của con sẽ khó nhọc trong vòng bốn mươi năm, nếu như con chọn con đường đúng đắn, nhưng điều đó sẽ dẫn đến những lợI ích lớn trong kiếp sống kế tiếp. Con đường sai bây giờ sẽ đưa đến cho con tiện nghi, sự mềm mại, và sự giàu có trong cuộc đờI hiện tạI, nhưng con sẽ không phát triển. Con và chỉ có một mình con có thể chọn lựa.” Ông dừng lạI, và nhìn tôi.
“Thưa ngài,” tôi trả lờI,”cha tôi nói rằng nếu như tôi trượt kì thi vào tu viện tôi sẽ không được trở về nhà. Làm như thế nào mà tôi có được sự mềm mại và tiện nghi nếu như tôi không có một mái nhà để mà trở về? Và ai sẽ chỉ cho tôi con đường đúng đắn nếu như tôi chọn lựa nó?” Ông ta mỉm cườI vớI tôi và trả lờI: “Chẳng lẽ là con đã quên rồI hay sao? Ta đã dò tìm ra được kiếp sống trước của con. Nếu như con chọn con đường sai, con đường mềm mạI, con sẽ được đặt trong một tu viện như là một Hiện thân Sống (Living Incarnation), và chỉ trong một vài năm con sẽ là Hoà thượng Viện chủ điều hành cả tu viện. Cha của con sẽ không gọI đó là một sự thất bạI!”
Một điều gì đó trong cách ông ta nói làm cho tôi hỏI một câu hỏI xa thêm:”Liệu ngài có xem rằng đó là một thất bạI hay không?”
“Đúng,” ông ta trả lờI,”biết được những gì mà ta biết, ta sẽ gọI đó là một sự thất bại.”
“Và ai sẽ chỉ cho tôi con đường đúng?”
“Ta sẽ là ngườI hướng dẫn con nếu như con chọn con đường đúng đắn, nhưng con sẽ là ngườI chọn lựa, không một ai được gây ảnh hưởng đến chọn lựa của con.”
Tôi nhìn ông ta, nhìn một cách chằm chằm. Và thích những gì mà tôi đã nhìn thấy. Một ngườI đàn ông cao lớn, vớI đôi mắt đen sắc bén.
Một khuôn mặt rộng mở, và một vầng tráng cao. Đúng, tôi thích những gì mà tôi nhìn thấy. Mặc dù là tôi chỉ mớI bảy tuổI, tôi đã có một cuộc sống khó khăn, và đã gặp nhiều ngườI, và thực sự có thể đánh giá liệu một ngườI đàn ông có phảI là một ngườI tốt.
“Thưa ngài,” tôi nói, “tôi mong muốn được là học trò của ngài và đi theo con đường đúng đắn.” Tôi thêm vào có phần buồn bã, tôi giả sử như vậy, “Nhưng tôi vẫn không muốn làm việc nặng nhọc !”.
Ông ta cườI lớn, và cái cườI của ông ta sâu lắng và ấm áp. “Lobsang, Lobsang, không một ai trong chúng ta thực sự làm việc nặng nhọc, nhưng chỉ một vài ngườI trong chúng ta đủ thật thà để thú nhận điều đó.” Ông ta nhìn lướt qua các trang giấy của ông ta. Chúng ta sẽ cần làm một cuộc giảI phẫu nhỏ trên đầu con trong một thờI gian không lâu để áp đặt khả năng nhìn xuyên thấu, và sau đó ta sẽ đẩy nhanh việc tu học của con bằng cách thôi miên. Chúng ta sẽ đưa con đi thật xa trong môn khoa học siêu hình, cũng như là trong y học !”
Tôi cảm thấy một ít buồn rầu, sẽ nhiều công việc khó khăn hơn nữa. Dường như là tôi đã làm việc nặng nhọc trong tất cả bảy năm vừa qua, và dường như có rất ít vui chơi, hay là thả diều. Vị lama dường như là biết được những ý nghĩ của tôi. “Ồ, đúng, anh bạn trẻ. Sẽ có nhiều cuộc bay diều sau này, thứ thật sự: những máy có khả năng nâng ngườI. Nhưng trước hết chúng ta phảI vạch ra làm như thế nào để sắp xếp những việc học hành này tốt nhất.” Ông ta quay về những giấy tờ của ông, và lật nhanh qua chúng. “Hãy để ta xem nào, chín giờ sáng cho đến một giờ chiều. Đúng, đó sẽ là bước bắt đầu. Hãy đến đây mỗI ngày vào chín giờ sáng, thay vì tham dự lễ, và chúng ta sẽ thấy những thứ thú vị gì chúng ta có thể thảo luận. Bắt đầu từ ngày mai. Con có nhắn gì cho cha mẹ con hay không? Ta sẽ thăm họ ngày hôm nay. Đưa cho họ cái đuôi sam của con!”
Tôi cảm thấy khá là mất tự chủ. Khi một chú bé được chấp nhận bởI một tu viện đuôi sam của chú sẽ được cắt đi và đầu của chú sẽ được cạo, và đuôi sam sẽ được gửI đến cha mẹ của chú, được đem đến bởI một thầy tăng, như là một biểu hiện rằng đứa con của họ đã được chấp nhận. Bây giờ Lama Mingyar Dondup sẽ đem đuôi sam của tôi để đi đưa tận tay. Điều đó có nghĩa là ông ta đã chấp nhận tôi vớI trách nhiệm cá nhân, như là “đứa con tinh thần”. Vị lama này là một nhân vật rất quan trọng, một ngườI đàn ông rất thông minh, một ngườI có tiếng tăm đáng ghen tỵ nhất trong toàn cõi Tây Tạng. Tôi biết rằng tôi sẽ không thất bạI dướI một ngườI đàn ông như vậy.
BuổI sáng hôm đó, quay trở lạI phòng học, tôi là một học trò mất tập trung nhất. Những ý nghĩ của tôi lảng vảng đi nơi khác, và ngườI thầy giáo đã có rất nhiều thờI gian và cơ hộI để làm thỏa mãn sự vui thích của ông ta trong việc trừng phạt ít nhất là một cậu bé!
Tất cả dường như là rất khó khăn, sự nghiêm khắc của những giáo viên. Nhưng sau đó, tôi tự an ủI chính mình, đó là tạI sao tôi đã đến, để học hỏi. Đó là tạI sao tôi đã tái sinh, mặc dù là vào lúc đó tôi đã không nhớ những thứ gì mà tôi phảI học lại. Chúng tôi tin một cách chắc chắn vào sự tái sinh (reincarnation), ở Tây Tạng. Chúng tôi tin rằng khi một ngườI đạt đến một giai đoạn tiến bộ nào đó trong quá trình tiến hoá, ngườI đó có thể chọn lựa tiếp tục đi lên một tầng tồn tạI khác, hay là quay trở lạI Trái Đất để học hỏI một điều gì đó nhiều hơn, hay là để giúp đỡ những ngườI khác. Đó cũng có thể là một ngườI đàn ông thông thái có một nhiệm vụ nào đó trong cuộc đờI, nhưng chết đi trước khi ông ta có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong trường hợp đó, như là chúng tôi tin rằng, ông ta có thể quay trở lạI để hoàn thành công việc của mình, miễn là kết quả sẽ có lợI cho những ngườI khác. Có rất ít ngườI có thể để cho những kiếp sống trước của họ được truy ngược lạI, phảI có những dấu hiệu chắc chắn và giá cả cũng như thờI gian sẽ ngăn chặn điều đó. Những ngườI có những dấu hiệu đó, như là tôi đã có, sẽ được gọI là “Hiện thân của Tái sinh” (Living Incarnations). Họ sẽ bị bắt phảI chịu sự khắc nghiệt nhất trong các đốI xử khắc nghiệt khi họ còn trẻ — như là tôi đã chịu đựng – nhưng sẽ là những đốI tượng được trọng vọng khi họ trở nên già hơn. Trong trường hợp của tôi, tôi sẽ được đốI xử đặc biệt để “dồn ép” những kiến thức về khoa học huyền bí của tôi. TạI sao, tôi đã không biết, vào thờI điểm đó!
Một trận mưa các cú đánh đổ lên hai vai tôi đưa tôi về vớI thực tạI của lớp học vớI một cú giật mạnh. “Ngu, khờ, đần! Có phảI là đầu óc của ma quỷ đã xuyên vào cái sọ dày của chú? Điều này đã vượt quá những điều màta có thể làm. Chú may mắn là bây giờ là thờI điểm phảI đi dự lễ.” VớI lờI nhận xét đó, vị thầy giáo giận dữ lạI đấm mạnh tôi thêm một cái cuốI cùng, vớI một số lượng lớn, và bước ra khỏI phòng. Chú bé ngay cạnh tôi nói, “Đừng quên, đây là phiên của chúng ta phảI làm việc trong nhà bếp vào buổI chiều nay. Hy vọng là chúng ta sẽ có dịp để làm đầy những túi tsampa của chúng ta.” Việc làm trong bếp là nặng nhọc, những “ngườI thường trực” nơi đó thường đốI xử những thằng bé chúng tôi như là những nô lệ. Không có giờ nghỉ ngơi cho chúng tôi sau những giờ làm bếp. Hai giờ căng thẳng của lao động mệt nhọc, sau đó lạI thẳng ngay vào lớp học. Đôi lúc chúng tôi bị giữ lạI lâu hơn ở trong bếp, và do vậy bị trễ khi vào lớp. Một thầy giáo đang nổI giận sẽ chờ đợI chúng tôi, và sẽ đánh tứ phía vớI cây gậy của ông ta mà không cho chúng tôi một cơ hộI nào để giảI thích lý do.
Ngày đầu tiên làm việc của tôi trong những cái bếp gần như là ngày cuốI cùng. Chúng tôi đi thành đoàn một cách miễn cưỡng dọc theo những hành lang lát đá về phía những cái bếp. TạI cửa chúng tôi được gặp bởI một nhà sư giận dữ: “Đi đến đây nào, những thằng ranh con vô dụng và lườI biếng,” ông ta la lên. “MườI đứa đầu tiên của bọn mày, đi vào chỗ kia và đốt những đống lửa lên.” Tôi là đứa thứ mườI. Đi xuống một hàng các bậc thang chúng tôi đi. Hơi nóng rất là áp đảo. Trước mặt chúng tôi chúng tôi thấy một ánh sáng đỏ, ánh sáng của những ngọn lửa đang cháy bập bùng. Những đống phân yak lớn nằm ngay bên cạnh đó, đây là nhiên liệu cho những lò lửa. “Lấy những cái xẻng bằng sắt kia và đốt cho hết đờI chúng mày,” nhà sư chịu trách nhiệm la lớn. Tôi chỉ là một đứa trẻ bảy tuổI khốn nạn giữa những những ngườI khác trong lớp, trong bọn họ không một ai là trẻ hơn mườI bảy tuổi. Tôi chỉ vừa mới nâng cái xẻng lên, và hết sức căng thẳng trong khi đặt nhiên liệu vào đống lửa tôi vô ý làm nó rơi nhẹ lên chân nhà sư. VớI một tiếng gầm lên giận dữ ông ta nắm lấy cổ tôi, vung tôi lên thành một vòng – và vướng chân. Tôi bị đẩy bay về phía sau. Một cái đau khủng khiếp bắn xuyên qua ngườI tôi, và có một mùi ghê tởm của thịt bị cháy. Tôi đã ngã vào đầu nóng đỏ của một thanh nhô ra từ lò lửa. Tôi ngã xuống sàn nhà vớI một tiếng la lớn, giữa những đống tro nóng. Về phía đỉnh của chân trái của tôi, gần tạI khớp chân, thanh sắt đã đốt cháy da thịt tôi cho đến khi nó bị dừng lạI bởI xương. Tôi vẫn còn vết thẹo màu trắng nhợt, mà ngay cả đến ngày hôm nay vẫn gây cho tôi một số trở ngại. BởI vì vết thẹo này tôi trong những năm tháng sau này bị nhận ra bởI ngườI Nhật.
Có một sự náo động. Những nhà sư chạy vộI đến từ mọI nơi. Tôi vẫn trong đám tro nóng nhưng sớm được nâng lên ra khỏI nơi đó. Khá nhiều phần của cơ thể tôi bị phỏng trên bề mặt, nhưng chân tôi vết phỏng thật sự là trầm trọng. Một cách nhanh chóng tôi được mang lên lầu đến một vị lama. Ông ta là một lama về y học, và lãnh trách nhiệm cứu lấy chân tôi. Thanh sắt đã han rỉ, và khi nó đi vào chân tôi, những vảy rỉ sắt đã lưu lạI bên trong. Ông ta phảI dò tìm xung quanh và nạo ra từng mảnh cho đến khi vết thương sạch sẽ. Sau đó nó được bó lạI chặt chẽ vớI một hỗn hợp bột dược thảo nén lại. Phần còn lạI của cơ thể tôi được bôi nhẹ vớI một thứ thuốc xức ngoài da cũng làm từ dược thảo mà nó chắc chắn làm giảm đi cái đau của ngọn lửa. Chân tôi đập mạnh và đau nhói và tôi chắc chắn rằng tôi sẽ không bao giờ bước đi được lạI nữa. Khi ông ta đã xong, vị lama gọI một nhà sư mang tôi vào một phòng nhỏ ở bên cạnh, nơi mà tôi được đặt lên giường trên những cái gối. Một nhà sư già bước vào và ngồI trên sàn nhà cạnh tôi và bắt đầu thì thầm những lờI cầu nguyện trên ngườI tôi. Tôi tự nghĩ thầm rằng đó là một điều tốt lành khi ban ra những lờI cầu nguyện cho sự an toàn của tôi sau khi tai nạn đã xảy ra. Tôi cũng quyết định hướng mình theo một cuộc đờI tốt đẹp, bởI vì tôi bây giờ đã có kinh nghiệm bản thân nó là như thế nào khi những con quỷ lửa hành hạ một người. Tôi nghĩ đến một bức tranh mà tôi đã nhìn thấy, trong đó một con quỷ đang chọc vào một nạn nhân không may mắn hầu như là cùng một nơi mà tôi đã bị phỏng.
NgườI ta có thể nghĩ rằng những nhà sư là những ngườI khốn nạn, không như là những gì mà mọI ngườI mong đợi. Nhưng –“nhà sư”– điều đó có nghĩa là gì? Chúng ta hiểu rằng từ đó chỉ bất kì ai, đàn ông, sống trong phụng sự cho đạo lama. Không nhất thiết phảI là một ngườI sùng đạo. Ở Tây Tạng hầu như bất kì ai đều có thể trở thành một nhà sư. Thường thì một chú bé “được gửI để trở thành một nhà sư” mà không có sự lựa chọn nào khác trong việc đó. Hoặc là một ngườI đàn ông có quyết định là ông ta đã quá đủ đốI vớI việc chăn cừu, và muốn chắc chắn rằng là có một mái che trên đầu của ông ta khi nhiệt độ là bốn mươi độ dướI không. Ông ta trở thành một nhà sư không phảI là thông qua sự bắt buộc về tôn giáo, nhưng để cho sự thanh thản của riêng ông ta. Những tu viện có “những nhà sư” như là những ngườI làm công việc nộI trợ, như là những ngườI thợ xây, những ngườI làm công, và những ngườI bớI rác. Trong những phần khác của thế giớI họ sẽ được gọI là “những ngườI làm công” hay là những từ ngữ tương đương. Hầu hết những ngườI trong họ đều đã trảI qua những thờI gian nhọc nhằn; cuộc sống ở mườI hai đến hai mươi ngàn feet có thể là khó khăn, và thường là họ khó chịu đốI vớI những đứa trẻ chúng tôi chỉ là cho sự ham muốn của ý nghĩ hay cảm giác đó. ĐốI vớI chúng tôi danh từ “nhà sư” là từ đồng nghĩa vớI “ngườI đàn ông”. Chúng tôi đặt tên những thành viên của các giáo sỹ khá là khác nhau. Một chela là một đứa học trò nhỏ, một ngườI tập việc, hoặc là một thầy tăng trẻ. Gần nhất vớI từ mà một ngườI trung bình gọI là “nhà sư” là trappa. Anh ta là ngườI chiếm số lượng nhiều nhất trong số những ngườI ở trong một tu viện. Sau đó chúng ta đến một từ bị lạm dụng nhiều nhất, một lama. Nếu như những trappa là những ngườI lính chưa xung trận, thì một lama là một ngườI lính xung trận. Đánh giá qua cách thức những ngườI phương Tây nói và viết, chúng tôi có nhiều sỹ quan hơn binh lính! Những lama là những bậc thầy, guru, như là chúng tôi gọI họ. Vị Lama Mingyar Dondup sẽ trở thành guru của tôi, và tôi là chela của ông ta. Sau những lama là có những vị hoà thượng Viện chủ. Không phảI là tất cả bọn họ đều cai quản các tu viện, rất nhiều ngườI trong họ bận rộn trong những nhiệm vụ tổng hợp của các vị trí quản lý cấp trên, hoặc là du hành từ tu viện này đến tu viện khác. Trong một số trường hợp, một vị lama đặc biệt nào đó có thể có vị trí cao hơn một hoà thượng viện chủ, điều đó phụ thuộc vào điều mà ông ta đang làm. Những ngườI là “Hiện thân Tái Sinh”, như là tôi đã được chứng minh, có thể được công nhận là hoà thượng viện chủ vào tuổI mườI bốn; điều đó phụ thuộc vào việc là liệu họ có vượt qua những kì thi sát hạch khó khăn. Những nhóm ngườI này nghiêm khắc và cứng rắn, nhưng họ không phảI là độc ác; họ đa số hầu hết trong nhiều lần là công bằng. Một ví dụ xa hơn của “nhà sư” có thể thấy trong từ “nhà sư công an”. Nhiệm vụ duy nhất của họ là giữ gìn trật tự, và họ không liên quan đến những buổI lễ trong đền thờ ngoạI trừ là họ phảI có mặt để bảo đảm rằng mọI việc diễn ra trong trật tự. Những nhà sư công an thường là tàn bạo, và như là tôi đã nói, cũng như là những ngườI lo việc nộI trợ. Chúng ta không thể kết tộI một giám mục bởI vì ngườI giữ vườn bên dướI của ông ta hành xử không được tốt! Và chúng ta cũng không mong đợI là ngườI giữ vườn bên dướI là một vị thánh chỉ bởI vì ông ta làm việc cho một giám mục.
Trong tu viện chúng tôi có một nhà tù. Không bằng một thước đo nào mà đó là một nơi dễ chịu khi phảI vào đó, nhưng tính cách của những ngườI bị nhốt vào đó cũng không dễ chịu một chút nào. Kinh nghiệm cô độc của tôi về nó là khi tôi phảI chữa bệnh cho một ngườI tù đã ngã bệnh. Đó là khi tôi hầu như là đã sẵn sàng rờI khỏI tu viện khi tôi được gọI đến một xà lim trong nhà tù. Bên ngoài sân phía sau là một số lượng các tường chắn hình tròn, cao vào khoảng ba feet. Những viên đá khổng lồ làm nên những bức tường có bề rộng bằng bề cao. Che trên các đỉnh là những thanh đá mỗI cái dày bằng đùi của một ngườI đàn ông. Chúng che một cửa mở hình tròn rộng khoảng chín feet. Bốn nhà sư công an nắm lấy thanh trung tâm, và kéo nó qua một bên. Một ngườI cúi mình xuống và nắm lấy một sợI dây bện bằng lông yak, và tạI cuốI đầu dây có một vòng thòng lọng trông rất mỏng manh. Tôi nhìn nó một cách không được vui vẻ; tôi tin tưởng vào cái đó? “Bây giờ, Lama Bác sỹ tôn kính,” ngườI đàn ông nói, “nếu như ông bước đến nơi đây và đặt chân vào cái này chúng tôi sẽ hạ ông xuống.” Một cách buồn rầu tôi tuân theo. “Ông sẽ muốn một chút ánh sáng”, nhà sư công an nói, và chuyền cho tôi một ngọn đuốc cháy chập chờn được làm từ những sợI chỉ tẩm trong bơ. Sự buồn rầu của tôi tăng lên; tôi phảI nắm lấy sợI dây thừng, và nắm lấy ngọn đuốc, và tự tránh mình khỏI lửa hoặc là làm lửa cháy xuyên qua sợI dây nhỏ mỏng mà một cách nghi ngờ nó đang nâng đỡ tôi. Nhưng hướng xuống dướI tôi hạ xuống, hai mươi lăm hoặc là ba mươi feet, xuống dướI giữa những bức tường long lanh ánh nước chảy, xuống tận sàn đá dơ bẩn. Bằng ánh sáng của ngọn đuốc tôi thấy một gã bất hạnh khốn khổ trông độc ác núp dựa vào bức tường. Chỉ một cái nhìn là đủ, không có aura xung quanh gã, do vậy là không có sự sống. Tôi nói lờI cầu nguyện cho linh hồn đang đi lang thang giữa những tầng tồn tạI, và khép đôi mắt hoang dạI, nhìn trừng trừng, sau đó gọI để được kéo lên. Công việc của tôi đã xong, bây giờ những ngườI cắt xác sẽ làm phần còn lại. Tôi hỏI rằng tộI của gã ta là gì, và được bảo là gã ta là một kẻ ăn mày đi lang thang đã đến tu viện xin thức ăn và nơi trú ẩn, và sau đó, trong một buổI đêm, đã giết một nhà sư chỉ vì một vài thứ của cảI của ông ta. Gã ta đã bị vượt bắt khi đang đang trên đường tẩu thoát, và đem trở lạI cảnh án mạng mà gã đã gây ra.
Nhưng tất cả những thứ đó hơi có phần lạc đề từ sự kiện của cố gắng đầu tiên của tôi của công việc phụ bếp.
Những hiệu ứng của những thứ thuốc xức ngoài da mất dần đi, và tôi cảm thấy như thể là da tôi bị cháy sém khỏI cơ thể của tôi. Sự đập mạnh ở trong chân tôi tăng dần, nó như thể là nó sẽ nổ tung; đốI vớI sự tưởng tượng đang lên cơn sốt của tôi cái lỗ như là được làm đầy vớI một cái đuốc đang cháy. ThờI gian lê đi; khắp tu viện có nhiều thứ âm thanh, một vài thứ tôi biết, và nhiều thứ khác tôi không biết. Cái đau đang quét qua khắp ngườI tôi trong những cục máu cháy bỏng. Tôi nằm trên mặt của tôi, nhưng phần trước của cơ thể tôi cũng bị bỏng, bị đốt cháy bởI tro nóng. Có một tiếng sột soạt rất khẽ, và một ai đó ngồI xuống bên cạnh tôi. Một giọng nói tốt bụng, đầy tình thương, giọng nói của Lama Mingyar Dondup nói: “NgườI bạn nhỏ, điều này là quá đáng. Ngủ đi.” Những ngón tay mềm mạI trượt dọc theo xương sống của tôi. Một lần nữa, và lạI một lần nữa, tôi không còn biết gì nữa.
Một mặt trờI mờ nhạt đang sáng lên trong đôi mắt tôi. Tôi chợt bừng tỉnh giấc, và vớI ý nghĩ đầu tiên của sự nhận thức vừa trở lạI là một ai đó đang đá vào tôi – và là tôi đã ngủ quên. Tôi cố gắng nhảy lên, để tham dự lễ, nhưng rơi xuống lạI trong sự đau đớn. Chân của tôi! Một giọng nói dịu dàng nói: “Nằm im, Lobsang, đây là ngày nghỉ ngơi cho con.” Tôi quay đầu lạI một cách khó nhọc, và thấy vớI một sự ngạc nhiên vô cùng là tôi đang ở trong phòng của vị lama, và ông ta đang ngồI cạnh tôi. Ông ta nhìn thấy cái nhìn của tôi và mỉm cười. “Và tạI sao có sự ngạc nhiên đó? Chẳng lẽ là điều không phảI khi mà hai ngườI bạn nên ở cạnh cùng nhau khi một ngườI bị bệnh?” Câu trả lờI có vẻ yếu ớt của tôi là: “Nhưng ngài là một trưởng Lama, và tôi chỉ là một cậu bé con.”
“Lobsang, chúng ta đã đi rất xa cùng nhau trong những kiếp sống trước. Trong kiếp này, tuy nhiên, con chưa nhớ ra. Ta nhớ, và chúng ta đã rất gần nhau trong kiếp sống trước của chúng ta. Nhưng bây giờ con phảI nghỉ ngơi và lấy lạI sức mạnh của mình. Chúng ta sẽ cứu lấy cái chân của con, do đó không phảI lo lắng gì cả.”
Tôi nghĩ về Bánh Xe của Sự Tồn TạI (Wheel of Existence), tôi nghĩ về lờI huấn thị sau đây trong những bộ Kinh Phật của chúng tôi:
“Sự phát đạt của một ngườI đàn ông rộng lượng là không bao giờ chấm dứt, trong khi ngườI bủn xỉn sẽ không bao giờ tìm thấy ngườI an ủi.
Hãy để ngườI đàn ông nhiều quyền uy rộng lượng vớI ngườI van xin. Hãy để ông ta nhìn xuống con đường dài của những cuộc đời. BởI vì sự giàu có quay vòng như là những bánh xe, chúng đến bây giờ cho một ngườI, rồI đến một kẻ khác. Kẻ ăn mày ngày hôm nay là một hoàng tử của ngày mai, và hoàng tử có thể đến như là một kẻ ăn mày.”
Điều rõ ràng đốI vớI tôi ngay cả là ngay lúc đó là vị lama ngườI mà bây giờ là ngườI hướng dẫn của tôi thật sự là một ngườI đàn ông tốt bụng, và là một ngườI mà tôi sẽ đi theo cho đến hết tận cùng khả năng của tôi. Điều rõ ràng là ông ta biết khá nhiều về tôi, rất nhiều hơn là tôi tự biết chính mình. Tôi đang mong đợI là sẽ được học vớI ông ta, và tôi quyết định là không một ai có thể có được một học trò tốt hơn. Có, như là tôi có thể cảm thấy một cách giản dị, một sự đồng cảm rất mạnh giữa chúng tôi, và tôi kinh ngạc trước sự sắp xếp của Số Phận mà đã đặt tôi vào sự quan tâm của ông ta.
Tôi quay đầu để nhìn ra cửa sổ. Những cái gốI của tôi được đặt trên một cái bàn để mà tôi có thể nhìn ra bên ngoài. Điều đó có vẻ là rất lạ lùng đốI vớI tôi khi nằm nghỉ ngơi cách xa nền nhà, khoảng bốn feet trên không khí. Trí tưởng tượng trẻ con của tôi so sánh nó như là một nơi chim ngủ trên một cành cây! Nhưng có nhiều thứ hơn để nhìn.
Về phía rất xa khỏI những mái nhà bên dướI của cửa sổ, tôi có thể thấy Lhasa dàn trảI ra dướI ánh nắng mặt trời. Những căn nhà nhỏ, thấp lùn đi vì khoảng cách, và tất cả những bóng cây thanh nhã màu tùng lam. Những dòng nước uốn lượn của sông Kyi chảy xuyên qua thung lũng bằng phẳng, đi vòng sườn xanh nhất của bãi cỏ xanh. Về phía xa những ngọn núi màu tía, được phủ bên trên vớI những mũ màu trắng của tuyết sáng óng ánh. Trên những sườn núi gần hơn có rảI rác những tu viện lợp mái bằng vàng. Về phía bên trái là Potala vớI cấu trúc đồ sộ của nó làm thành một ngọn núi nhỏ. Hơi một chút về phía phảI của chúng tôi là một rừng cây nhỏ làm hé lộ ra những ngôi đền và những trường học. Đây là nhà của Nhà tiên tri Quốc gia của Tây Tạng, một ngườI đàn ông quan trọng mà nhiệm vụ duy nhất trong đờI là nốI kết thế giớI vật chất vớI thế giớI phi vật chất. Bên dướI, trên sân trước, những nhà sư của tất cả các cấp đang đi tớI đi lui. Một số mặc một áo choàng nâu thẫm, đây là những nhà sư công nhân. Một nhóm những chú bé mặc đồ trắng, đây là những sư học sinh đến từ một tu viện xa xôi nào đó. Những cấp bậc cao hơn cũng có mặt ở đó: đó là những ngườI mặc áo đỏ chói, và những ngườI mặc áo choàng màu tía. Những nhóm ngườI được kể sau này thường có những khăn choàng trên ngườI họ, chỉ ra rằng họ có liên quan đến những chính quyền cao hơn. Một số lượng lớn cưỡI ngựa hay là những con pony (một loạI ngựa lùn). Những ngườI thế tục cưỡI những con vật có màu sắc, trong khi đó những thầy tu chỉ dùng màu trắng. Nhưng tất cả những thứ này đưa tôi đi ra khỏI trạng thái thực tạI ngay trước mặt. Tôi bây giờ quan tâm nhiều hơn về phía bình phục dần và có khả năng di chuyển xung quanh.
Sau ba ngày điều tốt hơn cho tôi là đứng dậy mà đi dạo vòng quanh. Chân tôi rất cứng và đau đớn không thể nàotả nổi. Toàn bộ khu vực sưng tấy lên và có sự chảy mủ gây ra bởI những hạt bụI sắt mà chúng chưa được lấy hết ra. Vì là tôi không thể nào đi bộ mà không có sự giúp đỡ, một cây nạng được làm cho tôi, và tôi nhảy lò cò vòng quanh trên cái nạng này có vẻ giống như là một con chim bị thương. Cơ thể tôi vẫn còn một số nhiều các vết cháy và các chỗ bỏng từ đám tro nóng, nhưng toàn bộ cơ thể không đau như là chân của tôi. NgồI là không thể được, tôi phảI nằm về phía bên phảI hay là nằm úp mặt. Hiển nhiên là tôi không thể dự lễ hay là lên lớp, do vậy NgườI Hướng dẫn tôi, Lama Mingyar Dondup, dạy tôi gần như là toàn bộ thờI gian. Ông ta tỏ vẻ hài lòng vớI lượng kiến thức mà tôi đã học được trong một vài năm, và nói, “Nhưng một số lớn những thứ này là do con vô ý thức mà nhớ lạI từ kiếp sống trước của con.”
Filed under: The Third Eye
Chương 4
Tại cổng đền thờ
Con đường dẫn thẳng về Tu viện Chakpori, Ngôi Đền của Y học Tây Tạng. Đây là một trường học khó. Tôi đi bộ nhiều dặm đường khi ngày trở nên sáng dần và tạI cổng dẫn vào lốI vào tôi gặp hai bạn khác, những ngườI cũng muốn được nhập trường. Chúng tôi nhìn nhau một cách thận trọng, và tôi nghĩ rằng không một ai trong chúng tôi có vẻ bị gây ấn tượng mạnh bởI những gì chúng tôi thấy trong những kẻ khác. Chúng tôi quyết định sẽ trở nên hoà nhã vớI nhau nếu như chúng tôi sẽ cùng trảI qua một sự huấn luyện giống nhau.
Trong một thờI gian lâu chúng tôi gõ cửa đền một cách rụt rè, và không có gì xảy ra. Sau đó một đứa trong chúng tôi cúi ngườI xuống và nhặt một cục đá lớn và thật sự gây ra đủ tiếng ồn để thu hút sự chú ý. Một nhà sư xuất hiện, vẫy một cây gậy mà đốI vớI những con mắt non trẻ sợ hãi của chúng tôi nó lớn giống như là một cây nhỏ. “Những đứa trẻ quỷ ranh tụI bây muốn gì?” ông ta la lên.”Chúng bây nghĩ rằng là ta không có việc gì tốt hơn để làm hơn là trả lờI cửa cho những đứa như chúng mày?” “Chúng con muốn trở thành những nhà sư,” tôi trả lời. “Chúng bây giống những con khỉ nhiều hơn,” ông ta nói. “Hãy chờ ở đó và không được di chuyển, vị Hoà thượng Bề Trên sẽ ra gặp chúng bây khi nào ông sẵn sàng.” Cánh cửa đóng sầm lạI, suýt nữa đánh bật một trong hai đứa kia ngã ngửa cả lưng, nó đã đến quá gần đến mức không cẩn thận. Chúng tôi ngồI xuống nền nhà, những đôi chân đã mệt mỏI vớI việc đứng. NgườI ta đi đến tu viện, rồI ra đi. Mùi vị dễ chịu của thức ăn thoảng đưa đến qua một cửa sổ nhỏ, trêu đùa chúng tôi vớI ý nghĩ của sự thoả mãn cái đói đang lớn dần. Thức ăn, quá gần, nhưng cũng quá hoàn toàn không đạt đến được.
CuốI cùng thì cánh cửa cũng được mở toang ra vớI một sự thô bạo, và một ngườI đàn ông cao, gầy xuất hiện nơi cửa vào. “Thế nào!” ông ta gầm lên. “Những đứa tinh quái khốn khổ chúng bây muốn cái gì?” “Chúng con muốn trở thành những nhà sư,” chúng tôi nói. “TrờI đất ơi,” ông ta la lên. “Những thứ rác rưởI như thế này đi đến tu viện những ngày hôm nay!” Ông ta vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi đi vào một khu vực có tường bao quanh làm thành chu vi của nền tu viện. Ông ta hỏI chúng tôi làm gì, là những ai, ngay cả tạI sao chúng tôi lạI ở đây! Chúng tôi thu nhận rằng, vớI không một khó khăn, là ông ta không bị gây ấn tượng một chút nào bởI chúng tôi. VớI một đứa, là con của một ngườI chăn đàn gia súc, ông nói: “Hãy vào đây nhanh lên, nếu như mày vượt qua các kì thi, mày sẽ được ở lại.” VớI đứa kế tiếp:”Mày, thằng nhóc. Mày nói cái gì? Con của một ngườI hàng thịt? Một kẻ sát sinh? Một ngườI vi phạm Luật của Buddha? Và mày đi tớI đây? Đi khỏI nơi đây, nhanh lên, hay là ta sẽ đánh mày văng ra đường cái.” Thằng bé bất hạnh nghèo nàn quên đi sự mệt mỏI của nó trong một sự bật lên đột ngột của tốc độ khi nhà sư tấn công nó bất thình lình. Lăn một vòng trong chớp mắt nó nhảy về phía trước, để lạI những vết cào nhỏ của lớp đất bị khuấy động khi chân nó chạm vào nền đất trong sự vộI vã.
Bây giờ chỉ còn lạI tôi, một mình vào ngày tôi lên bảy tuổi. Nhà sư dữ tợn quay cái nhìn hung dữ về phía tôi, gần như làm cho tôi co rút lạI tạI một chỗ vớI nỗi sợ. Ông ta giật lấy cây gậy của ông ta vớI vẻ hăm doạ. “Và mày? Chúng ta có gì ở đây? Ô hô! Một ông hoàng trẻ tuổI muốn trở thành ngườI mộ đạo. Chúng ta phảI xem thử xem chú mày được làm bằng gì đầu tiên, ông bạn nhỏ. Thử xem chú mày có thứ gì; đây không phảI là nơi cho sự mềm mạI và nuông chìu cho những ông vua con. Bước lùi bốn mươi bước về phía sau và ngồI trong tư thế trầm ngâm cho đến khi ta bảo thứ khác, và không được động đậy lông mi!” VớI điều đó ông ta quay đi đột ngột và đi khỏI. Một cách buồn bã tôi nhặt túi đồ đạc nhỏ bé thảm bạI của tôi, và đi bốn mươi bước lùi về phía sau. Trên hai đầu gồI tôi hạ xuống, và ngồI xếp bằng như là được ra lệnh. Và như vậy tôi ngồI cho hết ngày. Không cử động. Đám bụI thổI vào tôi, làm thành những mô nhỏ trong những bàn tay ngửa lên khum thành hình chén, chồng lên trên đôi vai tôi và len vào mái tóc tôi. Khi mặt trờI bắt đầu lặn dần cái đói tăng dần và cổ họng tôi khô rát vì cái khát, bởI vì tôi đã không có một thức ăn hay thức uống từ ánh sáng đầu tiên của buổI bình minh. Những nhà sư đi ngang qua, và có rất nhiều nhà sư, đã chẳng màng chú ý đến tôi. Những con chó đi loanh quanh dừng lạI một chút để ngửI ngửI một cách tò mò, sau đó chúng cũng bỏ đi. Một nhóm các đứa trẻ nhỏ đi ngang qua. Một đứa thảy một cục đá vô tình về phía tôi. Nó va vào một bên đầu tôi và làm máu chảy ra. Nhưng tôi không lay động. Tôi sợ làm điều đó. Nếu như tôi không qua được thử thách của sự chịu đựng cha tôi sẽ không cho phép tôi vào cái mà đã từng là nhà tôi. Không có chỗ nào cho tôi đi. Không có cái gì mà tôi có thể làm. Tôi chỉ có thể ngồI yên không cử động, đau đến từng cơ bắp, tê cứng từng khớp xương.
Mặt trờI lặn xuống đằng sau những rặng núi và bầu trờI trở nên tôi. Những ngôi sao toả sáng tương phản vớI màu đen của nền trời. Từ những khung cửa sổ của tu viện hàng ngàn ngọn đèn bơ nhỏ nhấp nháy trong ánh lửa. Một cơn gió lạnh, những cái lá của những cây liễu huýt lên và rơi lộp bộp, và xung quanh tôi có tất cả những thứ âm thanh yếu ớt mà chúng làm nên những tiếng động lạ lùng của buổI đêm.
Tôi vẫn ngồI yên không cử động vì những lý do mạnh nhất. Tôi quá lo sợ để di chuyển và tôi rất tê cóng. Hiện tạI có tiếng sush sush nhè nhẹ của các đôi dép cọ vào thềm sỏI của nhà sư đang đi đến; những bước đi của một ông già cảm thấy được lốI đi của ông trong bóng tối. Một cái bóng lù lù trước mặt tôi, có hình dạng của một nhà sư già cúi lom khom ngườI và xương xẩu vì những năm tháng khổ hạnh đã trảI qua.
Đôi tay của ông đã rung rung vì tuổI tác, một điều làm tôi hơi lo lắng khi tôi thấy ông làm đổ trà mà ông đang cầm trong một tay. Trong tay kia ông cầm một cái chén nhỏ đựng tsampa. Ông chuyền chúng về phía tôi. MớI đầu tôi không di chuyển để nhận lấy những thứ đó. Đoán được ý nghĩ của tôi, ông nói:” Hãy nhận lấy những thứ này, con ạ, bởI vì con có thể cử động trong những giờ của bóng đêm.” Do đó tôi uống cốc trà và chuyển tsampa sang chén riêng của tôi. Nhà sư già nói, “Bây giờ đi ngủ đi, nhưng vào lúc những tia sáng đầu tiên của mặt trờI hãy trở lạI tư thế này, bởI vì đây là một thử thách, và không phảI là một sự độc ác cố tình như là con bây giờ cho nó là như vậy. Chỉ những ai vượt qua được thử thách này có thể mong ước lên các bậc cao hơn của Thứ bậc của chúng ta.” VớI điều này ông thu lấy cái cốc và cái chén và đi khỏi. Tôi đứng lên và duỗI hai chân, sau đó nằm nghiêng một bên và ăn xong tsampa. Bây giờ tôi thật sự mệt mỏI, do vậy tôi đào lấy một cái hõm nhỏ trên nền đất để đặt xương chậu của tôi vào, và đặt cái áo dự trữ của tôi bên dướI đầu tôi, tôi nằm xuống.
Bảy năm của tôi đã không phảI là những năm tháng dễ dàng. Trong tất cả mọI lúc cha tôi đều nghiêm khắc, nghiêm khắc một cách đáng sợ, nhưng ngay cả như vậy thì đây là đêm đầu tiên của tôi xa nhà và cả nguyên một ngày tôi đã trảI qua chỉ trong một vị trí, đói, khát, và không được cử động. Tôi không biết rằng là ngày hôm sau sẽ mang lạI điều gì, hay là điều gì hơn mà tôi sẽ bị đòi hỏI. Nhưng bây giờ thì tôi phảI ngủ một mình dướI bầu trờI giá lạnh, cô đơn vớI nỗI sợ bóng đêm của tôi, cô đơn vớI những nỗI sợ hãi của tôi của những ngày sắp tới.
Dường như là tôi không nhắm mắt được trước khi một tiếng kèn trumpet đánh thức tôi dậy. Mở mắt ra, tôi thấy đó chỉ là bình minh giả tạo, vớI những ánh sáng đầu tiên của một ngày sắp đến phản chiếu dộI lên nền trờI đằng sau những dãy núi. Một cách vộI vã tôi ngồI dậy và tiếp tục tư thế ngồI thiền định. Dần dần toàn bộ tu viện phía trước tôi thức tỉnh một cách sinh động. Ban đầu có không khí của một thành phố ngái ngủ, một khốI trơ và chết lặng. Kế tiếp, một tiếng thở dài nhẹ, như là một ngườI ngủ đang thức dậy. Nó lớn dần thành một tiếng rì rào và phát triển thành một tiếng ầm ào trầm trầm, giống như là tiếng vo ve của những con ong trong một ngày mùa hè nóng bức. Thỉnh thoảng có một tiếng gọI của kèn trumpet, giống như tiếng chiêm chiếp câm của con chim ở đằng xa, và một tiếng càu nhàu trầm của một cái tù và, giống như là một con ễnh ương đang kêu trong một cái đầm lầy. Khi ánh sáng tăng dần, những nhóm nhỏ của các cái đầu trọc đi qua và đi lạI đằng sau các ô cửa sổ mở, những ô cửa sổ mà trong ánh sáng trước bình minh sớm hơn đã trông giống như những hố mắt trống của một hộp sọ được bóc sạch.
Ngày bắt đầu trưa dần, và tôi trở nên cứng dần, nhưng tôi không dám di chuyển; tôi không dám rơi vào giấc ngủ, bởI vì nếu tôi di chuyển, và không qua khỏI thử thách, thì tôi không có nơi nào để đi. Cha tôi đã nói rất rõ rằng là nếu như là tu viện không muốn tôi, thì ông cũng không muốn tôi. Những nhóm nhỏ của các nhà sư đi ra từ các toà nhà khác nhau, đi vào những công việc bí ẩn của họ. Những nhóm các đứa trẻ nhỏ đi dạo vòng quanh, đôi lúc đá lên một trận mưa bụI và những viên đá nhỏ về phía tôi, hoặc thốt lên những lờI nhận xét thô bỉ. BởI vì không có lờI đáp nào từ phía tôi chúng nhanh chóng mệt mỏI vớI thứ thể thao non yếu này và bỏ đi nơi khác để tìm những nạn nhân khác hợp tác hơn. Dần dần, khi những ánh sáng vào buổI chiều hôm bắt đầu tắt dần, những chiếc đèn bơ lạI toả sáng lung linh sống động bên trong những toà nhà của tu viện. Không lâu sau đó bóng đêm được làm dịu đi chỉ bởI những ngôi sao toả sáng yếu ớt, bởI vì lúc này là khi mặt trăng lên trễ. Trong ngôn ngữ của chúng tôi, mặt trăng bây giờ còn non và không thể nào du hành nhanh chóng.
Tôi trở nên buồn và cảm thấy sợ hãi; có phảI là tôi đã bị bỏ quên? Có phảI là sẽ có một thử thách nữa, một thử thách mà trong đó tôi phảI bị bỏ đói? Trong suốt ngày dài tôi đã không nhúc nhích, và bây giờ đây tôi ngất xỉu đi vì đói. Đột nhiên hy vọng chợt bùng lên trong tôi, và tôi gần như là nhảy lên trên đôi chân của mình. Có một tiếng ồn của bước chân đang lê bước và tôi thấy một bóng đen đang tiến dần lại. Sau đó tôi thấy đó là một con chó canh gác rất lớn đang kéo lê một vật gì đó theo sau. Hắn ta đã không để ý gì đến tôi, nhưng tiếp tục nhiệm vụ ban đêm của nó mà không đoái hoài gì đến hoàn cảnh của tôi. Hy vọng của tôi tan biến; tôi có thể khóc. Để ngăn chặn lòng mình trở nên quá yếu đuốI tôi tự nhắc nhở mình rằng chỉ có con gái và phụ nữ mớI ngốc nghếch như thế.
CuốI cùng thì tôi nghe tiếng của ngườI sư già đang đi đến gần. Lần này ông ta nhìn chăm chú một cách hiền từ từ phía trên tôi và nói: “Thức ăn và nước uống, con của ta, nhưng kết thúc là chưa đến. Vẫn còn có ngày mai, do đó chú ý rằng là con không được di chuyển, bởI vì rất nhiều đã thất bạI vào giờ thứ mườI một.” VớI những lờI này ông ta quay bước và đi khỏi. Khi ông ta đang nói tôi đã uống hết trà, và lạI chuyển số tsampa vào trong cái chén riêng của tôi. Một lần nữa tôi lạI nằm xuống, chắc chắn là không vui vẻ gì hơn là đêm hôm trước. Khi tôi nằm đó tôi tự hỏI mình về sự bất công của việc này; tôi không muốn trở thành một nhà sư của bất kì dòng nào, dạng nào, hay cỡ nào. Tôi không có chọn lựa nào hơn một con súc vật bị chất nặng hàng và bị dẫn đi qua một ngọn đèo. Và như vậy là tôi ngủ thiếp đi.
Ngày kế tiếp, ngày thứ ba, khi tôi đang ngồI trong tư thế của thiền định, tôi có thể cảm thấy chính mình đang trở nên yếu đi, và choáng váng. Tu viện dường như đang chao đảo trong một quầng khí bao gồm những toà nhà, những ánh đèn sáng nhiều màu sắc, những mảng màu hồng, vớI những dãy núi và những nhà sư đan xen vào nhau một cách tùy tiện. VớI một cố gắng kiên quyết tôi xoay sở để giũ sạch đi sự tấn công của sự hoa mắt này. Thật là thực sự đáng sợ đốI vớI tôi khi nghĩ rằng tôi có thể thất bạI ngay bây giờ, sau tất cả những gian khổ mà tôi đã trảI qua. Cho đến bây giờ thì những tảng đá bên dướI tôi có vẻ như đã mọc lên những lưỡI dao chọc vào tôi ở những nơi bất tiện. Trong một trong những khoảnh khắc nhẹ nhàng hơn tôi nghĩ rằng thật là vui sướng là tôi không phảI là một con gà mái đang ấp trứng, và phảI bắt buộc ngồI lâu hơn là tôi.
Mặt trờI dường như là đứng yên; ngày dường như dài vô tận, nhưng sau cùng thì ánh sáng bắt đầu yếu dần, và ngọn gió buổI tốI bắt đầu chơi đùa vớImột sợI lông rơi từ một con chim bay ngang qua. LạI một lần nữa những ngọn đèn nhỏ lạI xuất hiện trong các ô cửa sổ, từng cái một. “Hy vọng là tôi sẽ chết đêm nay,” tôi suy nghĩ; “không thể chịu đựng thêm một thứ nào nữa như thế này.” Chỉ vào ngay lúc đó hình dáng cao của Thượng toạ xuất hiện ở một cánh cửa đằng xa. “Chú bé, đến đây!” ông gọi. Cố gắng ngồI dậy vớI đôi chân tê cứng của tôi ngã sấp xuống trên mặt tôi. “Chú bé, nếu như chú muốn nghỉ ngơi chú có thể nằm đó thêm một đêm nữa. Ta sẽ không chờ lâu thêm một chút nào nữa.” Một cách vộI vã tôi cầm lấy đống hành lý và đi lảo đảo về phía ông ta. “Vào đây,” ông ta nói,“và tham dự lễ buổI chiều, sau đó gặp ta vào buổI sáng.”
Bên trong khá ấm áp, và có một mùi hương dễ chịu của trầm hương. Những giác quan được cái đói làm cho trở nên bén nhọn bảo vớI tôi rằng thức ăn khá gần đây, do vậy tôi đi theo một đám đông di chuyển về phía bên phải. Thức ăn – tsampa, và trà bơ. Tôi len lỏI lên hàng đầu như thể là tôi đã có một đờI ngườI thực tập việc đó. Những nhà sư nắm lấy đuôi sam của tôi một cách vô ích khi tôi bò toài giữa những hàng chân họ, nhưng tôi đi theo hướng của thức ăn và không có một thứ gì có thể ngăn tôi lạI trong lúc này.
Cảm thấy một chút ít khoẻ hơn vớI một ít thức ăn trong ngườI, tôi đi theo đám đông đi vào đền trong và tham dự buổI lễ buổI tối. Tôi đã quá mệt để biết bất cứ điều gì về buổI lễ, nhưng không một ai để ý đến tôi. Khi những nhà sư đi ra khỏI, tôi trườn vào đằng sau một cái cột lớn, và trảI mình ra trên nền đá, vớI đống hành lý bên dướI đầu tôi. Tôi lăn ra ngủ.
Một cú đập choáng váng – tôi nghĩ rằng đầu tôi đã nứt – và có tiếng của những giọng nói. “Chú nhóc mớI đến. Một trong những cậu ấm. LạI đây, hãy đánh đập nó!” Một ngườI trong đám đông các thầy tăng đang vẫy cái áo để dành của tôi, mà hắn ta đã kéo ra từ dướI đầu tôi, một ngườI khác đang cầm đôi giày nỉ của tôi. Một mảng tsamp mềm dễ ép đập vào mặt tôi. Những cú đấm và cú đá rơi lên ngườI tôi, nhưng tôi không chống đỡ, nghĩ rằng có khi đây là một phần của cuộc thử thách, để xem rằng liệu là tôi có vâng theo Luật thứ MườI sáu, mà luật đó dạy rằng: Chịu đựng đau khổ và tai hoạ vớI sự kiên nhẫn và sự hiền lành. Đột nhiên có một tiếng gầm lớn:”Cái gì đang xảy ra ở đây?” Một tiếng thì thầm sợ hãi:” Ồ! Đó là những Bộ Xương lúc lắc đang đi lảng vảng.” Khi tôi vuốt lấy tsampa từ đôi mắt tôi vị Hoà Thượng Bề Trên cúi ngườI xuống và kéo tôi đến chân bằng đuôi sam của tôi. “Mềm mạI! Ốm yếu! Mày là một trong những ngườI lãnh đạo trong tương lai? Bah! Đỡ lấy cái này, và cái này!” Những cú đánh, rất đau, hoàn toàn dộI lên ngườI tôi. “Đồ ốm yếu vô giá trị, không biết cách phòng thủ chính mình!” Những cú đánh dường như không bao giờ chấm dứt. Tôi dường như nghe thấy lờI tạm biệt của lão Tzu có dặn rằng: ”Hãy xử sự cho tốt, thế đó, và nhớ lấy tất cả những thứ mà ta đã dạy cho con.” Không một chút suy nghĩ tôi quay ngườI lạI, và đẩy nhẹ một cú như là Tzu đã dạy. Vị Hòa thượng bị bất ngờ và vớI một tiếng kêu đau đớn ông ta bay qua đầu tôi, va vào nền đá, và trượt dài trên sống mũi của ông ta, trượt hết cả da, và ngừng lạI khi đầu ông ta chạm vào một cột đá vớI một tiếng “onk” lớn. “Thôi chết rồI,” tôi nghĩ, “đây là điểm kết thúc của tất cả các nỗI lo của tôi.” Thế giớI dường như là ngưng hẳn lại. Những chú bé khác dường như ngưng thở. VớI một tiếng gầm lớn, vị sư cao lớn xương xẩu nhảy lên đôi chân của ông ta, vớI máu đang chảy ròng ròng từ cánh mũi. Ông ta gầm lên vớI một tiếng cườI lớn. “Gà choai háu đá, eh? Hay là một con chuột đang ở đường cùng; cái nào? A, đó là điều mà chúng ta phảI tìm ra!” Quay lạI và chỉ vào một cậu bé cao, lóng ngóng vào khoảng mườI bốn tuổI, ông nói: “Mày, Ngawang, mày là đứa lớn và khoẻ nhất trong tu viện này; thử xem là con của ngườI lái yak có tốt hơn là con của một ông hoàng khi nói đến việc đánh nhau.”
Đó là lần đầu tiên mà tôi biết ơn Tzu, nhà sư công an già. Trong những ngày trai trẻ ông ta đã từng là một vô địch về võ judo của xứ Kham. Ông ta đã dạy cho tôi – như là ông ta nói – “tất cả những gì mà ông biết”. Tôi đã từng phảI đánh vớI những ngườI đàn ông lớn, và trong môn khoa học này, nơi mà sức mạnh và tuổI tác là không đáng kể, tôi thật sự trở thành ngườI thành thạo. Bây giờ đây tôi biết rằng là tương lai của tôi phụ thuộc vào kết quả của cuộc đấu này, và tôi cuốI cùng khá là vui vẻ.
Ngawang là một cậu bé khoẻ mạnh và lực lưỡng, nhưng rất vụng về trong cách di chuyển của cậu ta. Tôi có thể thấy rằng cậu ta quen vào cách đánh thô bạo-và-đổ nhào, nơi mà sức mạnh của cậu ta làm lợI cho cậu. Cậu ta nhào về phía tôi, dự định nắm lấy tôi và làm tôi không có khả năng chống trả. Tôi bây giờ không sợ gì cả, nhờ vào Tzu và cách huấn luyện đôi khi thô bạo của ông ta. Khi Ngawang nhào tới
tôi nhảy qua một bên và xoắn nhẹ tay của cậu ta. Hai chân cậu trượt từ phía dướI cậu ta, cậu ngã lộn nửa vòng tròn và hạ xuống trên đầu cậu ta. Trong một khoảng thờI gian cậu ta rên rỉ, sau đó nhảy vọt lên trên đôi chân cậu ta và nhảy về phía tôi. Tôi hạ ngườI chìm xuống nền đất và xoắn một chân khi cậu ta bay qua ngườI tôi. Lần này cậu xoay lộn một vòng và hạ xuống trên vai trái. Cậu ta vẫn chưa cảm thấy hài lòng. Cậu nhảy vòng quanh một cách thận trọng, sau đó nhảy qua một bên và túm lấy một cái lư đốt hương nặng và vung về phía tôi vớI dây xích của nó. Một vũ khí như vậy chậm, nặng nề, và rất dễ tránh. Tôi bước phía dướI tay vụt của cậu ta, và đập nhẹ một ngón tay vào gáy của cậu ta, như là Tzu thường hay chỉ cho tôi xem. Hướng về phía dướI cậu ta lao đi, như là một hòn đá trên sườn núi, những ngón tay mất hết cảm giác buông thả sự nắm chặt vào sợI dây xích, làm cho cái lư hương lao thẳng như là một ná cao su về phía nhóm các cậu bé và các nhà sư đang đứng xem.
Ngawang bị bất tỉnh trong khoảng nửa giờ. Cú “chạm” đặc biệt đó thường được sử dụng để giảI phóng hồn khỏI xác cho việc du hồn và những mục đích tương tự.
Vị Hoà thượng Bề Trên bước về phía tôi, vỗ một cái vào vai tôi làm tôi suýt nữa ngã ấp mặt, và nói một câu có vẻ hơi mâu thuẫn:
”Chú bé, chú là một ngườI đàn ông!” Câu trả lờI hết sức táo bạo của tôi là:”Như vậy là tôi đã kiếm được một ít thức ăn, thưa ngài? Tôi chỉ có ăn rất ít lúc gấn đây.” “Cậu bé của ta, ăn và uống cho no đủ, sau đó nói một trong những chú du côn này – chú là chủ của bọn chúng từ bây giờ — đem chú đến cho ta.”
Vị sư già ngườI đã đem thức ăn cho tôi trước đó khi tôi bước vào tu viện bước đến và bảo vớI tôi rằng: “Con của ta, con đã làm được việc rất tốt, Ngawang là kẻ hay bắt nạt các thầy tăng khác. Bây giờ con thế vào chỗ của cậu ta và điểu khiển vớI lòng tốt và sự nhân từ. Con đã được dạy dỗ tốt, thấy rằng kiến thức của con được sử dụng tốt, và đã không rơi vào những bàn tay không đúng. Bây giờ hãy đi vớI ta và ta sẽ lấy thức ăn và thức uống cho con.”
Vị Hoà thượng Bề Trên chào hỏI tôi một cách tử tế khi tôi đi vào phòng của ông ta. “NgồI xuống, chú bé, ngồI xuống. Ta sẽ thử xem liệu là sự tinh thông về học vấn của chú có tốt như là thể lực của chú hay không. Ta sẽ cố gắng bắt bẻ chú, chú bé, hãy cẩn thận!” Ông ta hỏI tôi một lượng đáng kinh ngạc các câu hỏI, một số vấn đáp, và một số phảI viết ra. Trong vòng sáu tiếng đồng hồ chúng tôi ngồI đốI diện lẫn nhau trên gốI của chúng tôi, sau đó ông ta tỏ vẻ hài lòng. Tôi cảm thấy như là một miếng da yak chưa thuộc bị cháy thảm hạI, ướt sũng nước và ủ rũ. Ông ta đứng dậy. “Chú bé,” ông ta nói, “đi theo ta. Ta sẽ dẫn chú đến Hoà thượng Viện chủ. Một vinh dự khác thường, như chú sẽ biết là tạI sao. Đi theo ta.”
Theo những hành lang rộng tôi đi theo ông ta, đi qua những văn phòng tôn giáo, đi qua những đền thờ bên trong, và những phòng học. Đi lên trên cầu thang, đi qua thêm những hành lang xoáy ốc, đi qua Những điện thờ các Vị Thần, và những nơi lưu trữ các loạI dược thảo. Thêm nhiều cầu thang nữa, cho đến khi, cuốI cùng, chúng tôi lên đến mái nhà bằng phẳng và đi về phía nhà của Hoà thượng Viện chủ mà nó được xây dựng trên mái. Sau đó xuyên khung cửa có khảm những tấm vàng nguyên chất, đi qua khỏI tượng Buddha bằng vàng, vòng qua những Biểu trưng của Ngành Y Dược, và đi vào trong phòng riêng của Hoà Thượng Viện Chủ. “Chú bé, chú bé, chú bé, và làm như là ta làm. Thưa Ngài, đây là cậu bé Thứ Ba Lobsang Rampa.” VớI điều đó, Hoà Thượng Bề Trên cúi lạy ba cái, sau đó phủ phục trên nền nhà. Tôi cũng làm y hệt như vậy, tim đập thình thịch vì hồI hộp không biết là mình có làm đúng cách hay không. Vị Hoà Thượng Viện Chủ không nhúc nhích nhìn chúng tôi và nói: “NgồI xuống.” Chúng tôi ngồI lên những tấm đệm, xếp bằng, theo kiểu của Tây Tạng.
Trong một thờI gian dài vị Hoà thượng Viện Chủ vẫn nhìn tôi, nhưng không nói gì cả. Sau đó ông ta nói:”Thứ Ba Lobsang Rampa, ta biết tất cả về con, tất cả đều đã được dự báo trước. Sự thử thách về sự chịu đựng của con đã rất khắc nghiệt nhưng cho những lý do tốt. Lý do đó con sẽ được biết trong những năm tháng sau này. Bây giờ hãy biết rằng là trong mỗI một ngàn vị sư, chỉ có một ngườI là thích hợp cho những việc ở bậc cao cấp hơn, cho những phát triển cao hơn. Những ngườI khác trượt đi, và làm những công việc thường ngày. Họ là những công nhân thủ công, đó là những ngườI xoay những bánh xe cầu nguyện mà không bao giờ tự hỏI tạI sao phảI làm như vậy. Chúng ta không thiếu những ngườI đó, chúng ta thiếu những ngườI sẽ tiếp tục lưu truyền kiến thức của chúng ta khi sau này đất nước của chúng ta sẽ nằm dướI đám mây của ngoạI bang. Con sẽ được huấn luyện một cách đặc biệt, huấn luyện một cách sâu sắc, và chỉ trong một vài năm ngắn con sẽ được truyền cho nhiều kiến thức hơn là một vị lama bình thường phảI tốn cả một đờI ngườI mớI đạt được. Con Đường sẽ gian khổ, và thường là sẽ đau đớn. Để áp buộc việc nhìn xuyên thấu những cái vô hình là đau đớn, và để du lịch trong những cõi astral đòi hỏI những hệ thần kinh mà không một thứ gì có thể làm tan vỡ, và một sự quyết tâm cứng như là những tảng đá.”
Tôi lắng nghe một cách chăm chú, đón nhận tất cả những lờI đó. Tất cả dường như là quá khó khăn đốI vớI tôi. Tôi không có nhiều năng lượng như thế! Ông ta nói tiếp:”Con sẽ được huấn luyện ở nơi đây về y học và chiêm tinh thuật. Con sẽ được cung cấp mọI thứ giúp đỡ mà chúng tôi có thể đáp lại được. Con cũng sẽ được huấn luyện về các nghệ thuật huyền bí. Con Đường đã được vạch ra sẵn cho con, Thứ ba Lobsang Rampa. Mặc dù con chỉ mớI bảy tuổI, ta nói chuyện vớI con như là nói chuyện vớI một ngườI đàn ông, bởI vì theo lốI như vậy con sẽ được giáo dục. Ông ta cúi đầu xuống, và vị Hoà thượng Bề Trên đứng dậy và cúi đầu chào cung kính. Tôi cũng làm như vậy, và cùng nhau chúng tôi tìm đường đi ra. Chỉ cho đến lúc chúng tôi lạI một lần nữa vào phòng của Hoà thượng ông ta mớI phá tan sự im lặng. “Chú bé, chú sẽ phảI làm việc cật lực trong mọI lúc. Nhưng chúng ta sẽ giúp con mọI thứ mà chúng ta có thể. Bây giờ ta sẽ phảI cho con đi cạo đầu.” Ở Tây Tạng, khi một chú bé bước vào giớI giáo sỹ, đầu của chú phảI được cạo trọc chỉ chừa lạI một miếng vá. Miếng vá này sẽ được cạo sạch khi chú được đặt “pháp danh” cho, và tên trước đó của chú bị bỏ đi, nhưng nhiều thông tin hơn về điều đó sẽ được đưa ra sau này.
Vị Hoà thượng Bề Trên dẫn tôi qua những hành lang vòng quanh đến một phòng nhỏ, “phòng cắt tóc”. Nơi đây tôi được bảo phảI ngồI xuống trên nền nhà. “Tam-cho,” Hoà thượng nói, “cạo đầu chú bé này. Gỡ bỏ miếng vá luôn một thể, bởI vì chú bé sẽ được đặt pháp danh ngay lập tức sau đó.” Tam-cho bước tớI, nắm lấy cái đuôi sam của tôi trong tay phảI và nâng thẳng nó lên cao. “Ah! Chú bé. Một cái đuôi sam dễ thương, được tẩm bơ cẩn thận, được chăm sóc một cách cẩn thận. Một hân hạnh được cắt bỏ nó đi.” Từ một nơi nào đó anh ta đưa ra một cây kéo cực lớn — loạI kéo mà những ngườI giúp việc của nhà tôi dùng để cắt cây cỏ. “Tishe,” anh ta rống lên, “đến đây và cầm đầu cuốI của cái dây tóc này.” Tishe, ngườI phụ tá, chạy tớI và nắm lấy đuôi sam của tôi và đưa lên cao mạnh đến mức mà tôi gần như là bị nhấc bổng khỏI mặt đất. VớI cái lưỡI đưa ra của anh ta, và vớI rất nhiều tiếng cằn nhằn nhỏ, Tam-cho thao tác cái kéo cùn một cách tệ hạI đó, cho đến khi cái đuôi sam của tôi bị cắt đi một cách đáng kể. Đây là chỉ điểm bắt đầu. NgườI phụ tá đem vào một chén nước nóng, nóng đến nỗI mà tôi nhảy lên khỏI sàn nhà trong đau khổ khi nó được đổ lên đầu tôi. “Có chuyện gì vậy, chú bé? Bị luộc à?” Tôi trả lờI là đúng, và anh ta nói:”Không làm sao đâu, nó chỉ làm cho tóc dễ cạo hơn mà thôi!” Anh ta lấy ra một dao cạo ba mặt, rất giống như là thứ mà chúng ta có ở nhà để cạo những sàn nhà. CuốI cùng, sau một khoảng thờI gian như là vĩnh viễn, ít ra là tôi cảm thấy như vậy, đầu tôi đã bị cạo trọc tóc.
“Đi vớI ta,” vị Hoà thượng nói. Ông ta dẫn tôi vào phòng ông và lấy ra một cuốn sách lớn.”Bây giờ, chúng ta phảI gọI chú là gì?” Ông ta tiếp tục lẩm bẩm một mình, sau đó,” Ah, đây rồI: từ bây giờ trở đi chú sẽ được gọI là Yza-mig-dmar Lah-lu.” Cho cuốn sách này, tuy vậy, tôi sẽ tiếp tục sử dụng tên Thứ ba Lobsang Rampa, bởI vì nó sẽ dễ dàng hơn đốI vớI ngườI đọc.
Cảm thấy trần trụI như là một cái trứng mớI đẻ, tôi được dẫn vào một lớp học. Vì đã có một nền giáo dục tốt ở nhà, tôi được xem như là biết nhiều hơn là một học sinh trung bình, do vậy tôi được đặt vào một lớp toàn các thầy tăng mườI bảy tuổi. Tôi cảm thấy như là một chú lùn giữa những ngườI khổng lồ. Những ngườI khác đã thấy là tôi đương đầu vớI Ngawang như thế nào, do vậy tôi không có khó khăn trở ngạI nào ngoạI trừ một sự kiện vớI một chú to lớn ngu xuẩn. Hắn ta đi đến từ phía sau tôi và đặt bàn tay to lớn dơ bẩn lên mái đầu đang rất đau của tôi. Chỉ là việc vươn lên cao và gõ những ngón tay của tôi vào cuốI cùng của khuỷu tay của hắn để đẩy hắn vừa đi khỏI vừa rên la đau đớn. Thử gõ hai “xương cườI” cùng một lúc, và xem như thế nào! Tzu thật sự là đã dạy dỗ tôi tốt. Những ngườI thầy dạy judo mà tôi được gặp sau đó trong tuần tất cả đều biết đến Tzu; tất cả đều nói rằng ông là một những “bậc thầy judo” điêu luyện nhất trong toàn cõi Tây Tạng. Tôi không có một khó khăn nào nữa từ những chú bé. NgườI thầy của chúng tôi, ngườI mà đã quay lưng đi khi chú kia đặt tay lên đầu tôi, đã sớm để ý đến điều gì đang xảy ra. Ông ta cườI nhiều đến nỗI là rốt cục ông ta để chúng tôi về sớm.
Bây giờ là vào khoảng tám giờ rưỡI tốI, do vậy chúng tôi có khoảng ba phần tư giờ dư ra trước khi buổI lễ của đền thờ vào lúc chín giờ mườI lăm. Niềm vui của tôi chỉ trong chốc lát; khi chúng tôi đi ra khỏI phòng một vị lama vẫy vẫy tôi. Tôi đi về phía ông ta và ông ta nói: “Đi vớI ta.” Tôi đi theo ông ta, tự hỏI rằng không biết là những điều phiền phức mớI gì đang chờ sẵn. Ông ta rẽ vào một phòng nhạc nơi mà có vào khoảng hai mươi cậu bé mà tôi biết cũng là những ngườI mớI vào như tôi. Ba ngườI nhạc công ngồI cạnh bên những nhạc cụ của họ, một cạnh một cái trống, một cạnh một cái tù và, và ngườI kia cạnh một cái kèn trumpet bằng bạc. Vị lama nói:”Chúng ta sẽ hát để ta thử xem giọng hát của con có tốt cho ca đoàn hay không.” Những ngườI nhạc công bắt đầu, chơi một điệu nhạc hết sức phổ biến để tất cả đều có thể hát. Chúng tôi nâng cao giọng. Vị Nhạc Sư cau mày. Cái nhìn nghi vấn trên mặt của ông ta được thay thế bằng một sự đau khổ thật sự. Vung hai tay lên cao ông ta phản đối. “Ngưng ! Ngưng!” ông ta la lên, “ngay cả các vị Thần linh phảI quặn đau vớI điều này. Bây giờ hãy bắt đầu lạI và hãy làm điều này một cách đúng đắn.” Chúng tôi lạI bắt đầu. Một lần nữa chúng tôi bị ra lệnh ngưng. Lần này vị Nhạc Sư đi đến thẳng về phía tôi. “Thằng ngu,” ông ta than lên, “chú mày đang cố gắng trêu đùa ta. Chúng ta sẽ để cho các nhạc công chơi, và chú mày hát một mình mà sẽ không hát theo đoàn!” Một lần nữa âm nhạc được bắt đầu. Một lần nữa tôi nâng giọng của mình lên theo bài hát. Nhưng không được bao lâu. Vị Nhạc sư vẫy vẫy về phía tôi trong một cơn giận. “Thứ ba Lobsang, những tài năng của chú không bao gồm âm nhạc. Chưa bao giờ trong vòng năm mươi năm ở nơi này ta từng nghe một giọng hát lạc điệu như vậy. Lạc điệu? Thật ra là chẳng có điệu nào cả! Chú bé, chú sẽ không bao giờ hát nữa. Vào những giờ học hát chú sẽ học những thứ khác. Trong những buổI lễ của đền thờ chú sẽ không phảI hát, nếu không thì sự không hoà nhập của chú sẽ phá hỏng tất cả. Bây giờ đi đi, chú phi âm nhạc và phá hạI !” Tôi đi ra.
Tôi đi dạo vòng quanh cho đến lúc tôi nghe những tiếng kèn trumpet thông báo rằng đây là lúc tụ họp lạI cho buổI lễ ban tối. TốI hôm qua – - trờI đất — chỉ mớI tốI hôm qua tôi đã đi vào tu viện? Nó dường như là hàng thế hệ đã trôi qua. Tôi cảm thấy như là tôi đang bước đi trong giấc ngủ, và tôi lạI cảm thấy đói. Có lẽ điều đó là đúng, vì nếu như tôi no tôi đã rũ xuống và ngủ. Một ai đó túm lấy áo của tôi, và tôi bị bế bổng lên trời. Một vị lama cao lớn, thân thiện đã nâng bổng tôi lên bờ vai rộng của ông ta. “Đi vớI ta, chú bé, chú sẽ bị trễ cho buổI lễ, và sau đó chú sẽ bắt kịp nó. Chú trễ bữa ăn tốI của chú, chú biết đấy, nếu như chú đến trễ, chú sẽ cảm thấy trống rỗng như là một cái trống.” Ông ta đi vào đền thờ vẫn mang theo tôi và đi vào chỗ của ông ta chỉ về phía sau của các đệm ngồI của các chú bé. Một cách cẩn thận ông ta đặt tôi lên một đệm ngồI phía trước ông ta. “ĐốI diện ta, chú bé, và làm những dấu hiệu đáp lễ như là ta làm, như khi ta hát, chú – ha! ha! — giữ im lặng. Tôi thật sự biết ơn đến sự giúp đỡ của ông ta, rất ít ngườI đã từng tốt bụng vớI tôi; những lờI hướng dẫn tôi đã từng có trong quá khứ được la hét ở một đầu, hay là đánh gõ ở một đầu khác.
Tôi chắc là đã ngủ gà ngủ gật, bởI vì tôi chợt tỉnh để thấy rằng buổI lễ đã kết thúc, và vị lama to lớn đã mang tôi đi, trong lúc tôi ngủ, đến nhà ăn và đặt trà, tsampa, và một ít rau luộc trước mặt tôi. “Ăn hết đi, chú bé, sau đó đi ngủ. Ta sẽ chỉ chỗ ngủ cho chú. Cho đêm hôm nay chú có thể ngủ đến năm giờ sáng, sau đó đi đến gặp ta.” Đó là điều cuốI cùng mà tôi nghe cho đến năm giờ sáng khi tôi bị đánh thức dậy, vớI khó khăn, bởI một chú bé ngườI tỏ vẻ thân thiện ngày hôm trước. Tôi thấy rằng tôi đang ở trong một phòng lớn, và đang ngồI nghỉ trên ba cái đệm. “Vị Lama Mingyar Dondup nói vớI ta là phảI thấy rằng chú phảI được đánh thức vào lúc năm giờ.” Tôi đứng dậy và chồng những cái gốI dựa vào một bức tường như là tôi thấy những ngườI khác đã làm. Những ngườI khác đi ra ngoài, và cậu bé đang ở vớI tôi nói: “Chúng ta phảI vộI lên cho bữa ăn sáng, sau đó ta phảI đưa chú đến Lama Mingyar Dondup.” Bây giờ tôi đã trở nên ổn định cuộc sống nhiều hơn, không phảI là vì tôi thích nơi này, hay là muốn ở lại. Nhưng điều xảy đến vớI tôi rằng là vì tôi không có chọn lựa nào khác, tôi nên là ngườI bạn tốt nhất của chính tôi nếu như tôi ổn định cuộc sống vớI không một chút ồn ào nào cả.
Vào buổI điểm tâm, NgườI Đọc Kinh đọc đều đều một điều gì đó từ một trong một trăm mườI hai tập của Kan-gyur, Những Bộ Kinh của Phật Giáo. Ông ta có lẽ là đã nhìn thấy là tôi đang suy nghĩ về những thứ gì khác, bởI vì ông ta văng ra cộc cằn: “Chú, chú nhóc mớI tớI kia, ta vừa nói gì trong câu cuốI cùng? Nhanh!” Như là một ánh chớp, và gần như là không cần suy nghĩ, tôi trả lờI: “Thưa, ông đã nói rằng ‘thằng bé kia đang không lắng nghe, ta sẽ bắt quả tang hắn’!” Điều đó chắc hẳn là làm rộ lên một cái cườI lớn và cứu tôi khỏI một sự che giấu về sự không chú ý. NgườI Đọc Kinh mỉm cườI — một sự kiện hiếm có – và giảI thích rằng ông ta đã hỏI về một đoạn văn trong Bộ Kinh, nhưng tôi có thể “thoát khỏI điều đó lần này”.
TạI tất cả các bữa ăn những NgườI Đọc Kinh đứng ở một bục giảng kinh và đọc ra từ các cuốn sách thiêng liêng. Những nhà sư không được nói chuyện tạI bữa ăn, và cũng không được suy nghĩ về thức ăn. Họ phảI tiêu vào bụng những kiến thức thiêng liêng vớI thức ăn của họ. Chúng tôi tất cả đều ngồI trên nền nhà, trên những đệm, và ăn trên một cái bàn cao khoảng mườI tám inch. Chúng tôi không được phép gây ra một tiếng ồn trong thờI gian của những bữa ăn, và chúng tôi tuyệt đốI bị cấm không được chống hai khuỷu tay lên trên bàn ăn.
Kỷ luật ở Chakpori thật sự là bằng sắt. Chakpori nghĩa là “Núi Sắt”. Trong hầu hết các tu viện có rất ít kỉ luật tổ chức hay là thủ tục. Những nhà sư có thể làm việc hoặc ăn không ngồI rồI như họ mong muốn. Có lẽ là một trong một ngàn ngườI muốn tiến bộ, và họ là những ngườI sẽ trở thành những lama, bởI vì lama nghĩa là “ngườI bề trên” và điều này không áp dụng cho tất cả mọI người. Trong tu viện của chúng tôi kỉ luật là gay gắt, có khi là dữ dằn. Chúng tôi sẽ trở thành những chuyên gia, những lãnh tụ của tầng lớp chúng tôi, và đốI vớI chúng tôi trật tự và huấn luyện được xem như là tuyệt đốI quan trọng. Chúng tôi những chú bé không được cho phép sử dụng các áo choàng trắng cho các thầy tăng, nhưng phảI mặc những thứ bằng vảI thô màu nâu đỏ nhạt của nhà sư được chấp nhận. Chúng tôi cũng có những ngườI làm việc nộI trợ, nhưng những nhà sư này là những nhà sư giúp việc những ngườI trông coi việc quản gia của tu viện. Chúng tôi cũng phảI thay phiên cho những công việc nộI trợ để cho chắc chắn rằng là chúng tôi không có những ý nghĩ cao hứng. Chúng tôi luôn luôn phảI nhớ đến lờI dạy cổ xưa của Phật giáo: “Bản thân là phảI làm gương, chỉ làm điều tốt, và không làm điều hạI, cho những ngườI khác. Đây là điều quan trọng trong lờI dạy của Buddha.” Vị Hoà thượng Viện Chủ của chúng tôi, Lama Cham-pa La, cũng nghiêm khắc như là cha tôi, và yêu cầu sự tuân phục một cách lập tức. Một trong những lờI dạy của ngài là: “Đọc và viết là những cánh cổng cho mọI phẩm chất”, và do vậy chúng tôi có rất nhiều thứ để làm theo hướng đó.
Filed under: The Third Eye
Chương 3
Những ngày cuốI cùng ở nhà
Bên trong nhà vẫn còn rất nhiều rất hoạt động. Trà vẫn được tiêu thụ vớI những số lượng lớn, và thức ăn vẫn tiếp tục biến mất bởI những ngườI dự tiệc cuốI cùng muốn cho chắc bụng để chuẩn bị cho đêm sắp tới. Tất cả các phòng đã bị chiếm lấy và chẳng còn lạI chỗ nào cho tôi. Một cách chán chường tôi đi dạo vòng quanh, đá lung tung vào các viên đá và mọI thứ khác trên đường đi, nhưng ngay cả điều đó cũng đã không mang lạI hứng thú nào cả. Không một ai để ý đến tôi, những ngườI khách đều mệt mỏI và vui vẻ, những ngườI giúp việc mỏI mệt và khó chịu. “Những con ngựa có nhiều tình cảm hơn,” tôi cằn nhằn một mình, “tôi sẽ đi đến và ngủ vớI chúng.”
Những chuồng ngựa ấm áp, và cỏ khô mềm mạI, nhưng trong một khoảng thờI gian giấc ngủ đã không đến vớI tôi. MỗI lần tôi ngủ gà ngủ gật một con ngựa sẽ đến thúc tôi, hoặc là một tiếng kêu đột ngột từ phía nhà đánh thức tôi. Dần dần thi những tiếng ồn cũng yên lặng. Tôi nâng mình lên trên một khuỷu tay và nhìn ra bên ngoài, những ngọn đèn từng cái một bập bùng rồI tắt đen. Không lâu sau đó chỉ có ánh trăng xanh lạnh phản chiếu mạnh mẽ từ những đỉnh núi tuyết. Những con ngựa đã đi ngủ, một số con trên đôi chân, và một số ngủ nằm nghiêng. Tôi cũng ngủ. Ngày hôm sau tôi bị đánh thức bởI một cú lắc mạnh và một giọng nói: ”Dậy đi nào, Thứ ba Lobsang. Tôi phảI chuẩn bị những con ngựa sẵn sàng và cháu cản đường tôi.” Vậy là tôi phảI dậy và tìm đường vào nhà tìm kiếm lấy thức ăn. Có rất nhiều hoạt động trong nhà. Nhiều ngườI đang chuẩn bị rờI nhà, và mẹ tôi đang đi lạI từ nhóm này đến nhóm kia cho những câu chuyện cuốI cùng. Cha tôi đang bàn luận về những phương pháp để nâng cấp nhà và những khu vườn. Ông ta đang nói vớI một ngườI bạn cũ rằng ông ta đang có ý định nhập khẩu kính từ Ấn Độ để nhà của chúng tôi sẽ có những khung cửa sổ lắp kính. Ở Tây Tạng không có kính, không có một thứ kính nào được làm ở Tây Tạng, và giá cả để đem nó đến từ Ấn Độ thật sự là rất cao. Những cửa sổ ở Tây Tạng có những cái khung trên đó những tờ giấy được căng ra được tẩm nhiều sáp và trong mờ mờ, nhưng không trong suốt. Bên ngoài những cửa sổ là những cửa chớp nặng bằng gỗ, không đủ để chặn ăn trộm bằng chặn sự bắn vào của các hạt sạn được thổI đến bởI những cơn gió mạnh. Những hạt sạn này (đôi khi chúng giống như những viên sỏI nhỏ) sẽ xé toang xuyên qua bất kì cửa sổ nào không được bảo vệ. Nó cũng cắt sâu vào những bàn tay và những khuôn mặt để trần, và trong mùa của những cơn gió mạnh, những chuyến du hành như thế là đầy nguy hiểm. Những ngườI ở Lhasa thường để mắt thận trọng đến Đỉnh núi và khi đột nhiên nó bị che khuất đi trong một đám bụI mù đen mọI ngườI thường lao nhanh về nơi trú ẩn trước khi những ngọn gió quất ra máu bắt kịp họ. Nhưng không chỉ những con ngườI mớI cảnh giác: những con thú cũng cảnh giác, và không phảI là một cảnh bất thường khi thấy những con ngựa và những con chó dẫn đầu đoàn ngườI trong cuộc chạy đua về nơi trú ẩn. Những con mèo không bao giờ bị kẹt trong cơn bão, và yak thì khá là miễn nhiễm.
VớI sự ra đi của những ngườI khách cuốI cùng tôi được gọI lên trước cha tôi và ông bảo:” Đi đến nơi mua sắm và mua tất cả những thứ mà con cần. Tzu biết là cần những thứ gì.” Tôi nghĩ về những thứ mà tôi sẽ cần, một chén ăn tsampa được làm bằng gỗ, một cái cốc, và một chuỗI tràng hạt. Cái cốc sẽ được làm thành từ ba phần, cái đế, cái cốc, và cái nắp của nó. Cái này phảI được làm bằng bạc. ChuỗI tràng hạt sẽ được làm bằng gỗ, vớI một trăm lẻ tám hạt được đánh nhẵn cho đến bóng láng. Một trăm lẻ tám, một con số linh thiêng, cũng chỉ ra những thứ mà một thầy tu phảI ghi nhớ.
Chúng tôi lên đường, Tzu trên con ngựa của ông ta, tôi trên con ngựa nhỏ của tôi. Khi chúng tôi rờI khỏI sân nhà chúng tôi rẽ phảI, sau đó rẽ phảI một lần nữa khi chúng tôi rờI Đường Vành Đai đi ngang qua Potala để đi đến khu mua bán. Tôi nhìn xung quanh tôi như thể là nhìn thành phố lần đầu tiên. Tôi rất sợ rằng là tôi đang nhìn nó lần cuốI cùng! Những cửa hàng đông đúc vớI những ngườI nhà buôn vừa đến Lhasa đang cò kè mặc cả. Một số đem trà từ Trung Quốc lên, và những ngườI khác đem vảI từ Ấn Độ sang. Chúng tôi đi qua xuyên qua đám đông để đến những cửa hàng mà chúng tôi muốn ghé thăm; mỗI lần rất thường xuyên Tzu kêu lên một tiếng chào một ngườI bạn cũ nào đó của ông ta trong những năm tháng trước đó.
Tôi phảI mua một bộ áo quần màu nâu đỏ nhạt. Tôi sẽ nên có một bộ hơi lớn một chút, không chỉ bởI vì là tôi đang lớn, nhưng cho một lý do cũng thực tế ngang như vậy. Ở Tây Tạng những ngườI đàn ông mặc những bộ quần áo rộng thùng thình mà chúng được buộc chặt ở thắt lưng. Phần bên trên được kéo lên và làm thành một cái túi mà là nơi chứa đựng mọI thứ đồ vật mà một ngườI đàn ông Tây Tạng thấy là cần thiết phảI mang theo. Một nhà sư trung bình, chẳng hạn, sẽ mang trong bọc này chén đựng tsampa, một cái cốc, một con dao, đủ loạI bùa, một tràng hạt, một túi lúa mạch rang và, không thường xuyên lắm, một nguồn tsampa dự trữ. Nhưng hãy nhớ lấy, một nhà sư mang theo trên ngườI ông ta tất cả những thứ vật chất của thế gian mà ông ta sở hữu.
Những thứ thảm hạI mà tôi mua được giám sát chặt chẽ bởI Tzu, ngườI cho phép chỉ những thứ quan trọng vừa đủ, và những thứ chất lượng chỉ trung bình để phù hợp vớI “một phụ tá nghèo”. Chúng bao gồm những đôi giày săn đan quai làm bằng da yak, một túi da nhỏ để đựng lúa mạch rang, một chén gỗ để ăn tsampa, một cốc gỗ — không phảI là thứ làm bằng bạc mà tôi đã từng hy vọng! – và một con dao khắc. Thứ này, cùng vớI một dảI tràng hạt rất thô nhám mà tôi phảI tự mình làm bóng, đã chỉ là những thứ sở hữu của tôi. Cha tôi có một triệu lần giàu hơn tôi, vớI những nhà cửa to lớn khắp nơi trong đất nước, vớI những viên đá quý, và thật sự là nhiều vàng. Nhưng tôi, khi tôi đang được huấn luyện, khi cha tôi còn sống, tôi chỉ là một nhà sư rất nghèo.
Tôi nhìn lạI con đường, nhìn những căn nhà hai tầng lầu vớI những mái hiên dài nhô ra. Tôi nhìn lạI những gian hàng vớI những vây cá mập và những tấm phủ yên ngựa trưng bày trên những quầy bên ngoài cửa của họ. Tôi lắng nghe một lần nữa những lờI đùa cợt vui vẻ của những thương gia và những khách hàng của họ đang mặc cả vớI bản tính tốt trên những cái giá phảI trả. Con đường này chưa bao giờ trông hấp dẫn hơn và tôi nghĩ về những con ngườI may mắn được thấy nó hàng ngày và tiếp tục sẽ thấy nó hàng ngày.
Những con chó lạc đi dạo vòng quanh, đánh hơi nơi này và nơi kia, trao đổI những tiếng gầm gừ, những con ngựa hí lên nhè nhẹ lẫn nhau khi chúng đang chờ đợI sự giảI trí của những ông chủ của chúng. Những con yak rên khàn khàn khi chúng đi vơ vẩn qua đám đông khách bộ hành. Những bí ẩn gì ẩn nấp đằng sau những cửa sổ che giấy kia. Những gian hàng tuyệt vờI vớI các loạI hàng hoá, từ tất cả các phần của thế giớI, đã đi xuyên qua những cái cửa gỗ vững chắc đó, và những câu chuyện nào sẽ được các cánh cửa chớp đó kể ra nếu như chúng biết nói.
Tất cả những thứ này tôi ngắm nhìn theo như ngắm nhìn theo một ngườI bạn cũ. Nó đã không xảy đến vớI tôi rằng tôi sẽ có bao giờ thấy lạI những con đường này, hoặc là hiếm khi nào. Tôi nghĩ về những thứ tôi muốn làm, những thứ mà tôi muốn mua. Sự mơ mộng của tôi bị ngắt đứt thô bạo. Một bàn tay khổng lồ và hăm doạ hạ xuống tôi, nắm tay tai tôi và xoắn nó một cách thô bạo, trong khi giọng nói của Tzu gầm vang cho cả toàn thế giớI đều nghe: “Đi nào, Thứ ba Lobsang, mày đang chết trên đôi chân à? Tao không biết là những đứa trai trẻ sẽ trở thành những gì trong ngày hôm nay. Không phảI như thế này khi tao còn trai trẻ.” Tzu chẳng có vẻ lấy làm phiền nếu như tôi ở lạI phía sau và mất đi lỗ tai, hay là vẫn giữ lỗ tai nếu như đi theo ông ta. Không còn chọn lựa nào khác là “đi nào”. Trong suốt cả đoạn đường về nhà Tzu cưỡI phía trước, cằn nhằn và rên rỉ về “thế hệ bây giờ, đa số là không tốt cho thứ gì cả, lườI thấu xương nằm la liệt sống trong tình trạng mê mẩn.” Ít nhất là có một điểm sáng, khi chúng tôi rẽ vào đường Lingkhor có một trận gió cắt da. Vóc ngườI to lớn của Tzu phía trước tôi đã cho tôi một con đường được che chở.
Về nhà, mẹ tôi nhìn qua các thứ mà tôi đã mua. Trong sự hốI tiếc của tôi bà đồng ý tất cả mọI thứ là đủ tốt. Tôi đã từng ôm ấp hy vọng là bà sẽ ra lệnh cho Tzu, và nói rằng là tôi nên có những thứ có chất lượng tốt hơn. Như vậy là một lần nữa những hy vọng của tôi về việc có một cái cốc bạc đã bị phá vỡ và tôi phảI chịu khó vớI một cái cốc gỗ được tiện bằng tay trong những cửa hàng tạp hoá của Lhasa.
Tôi không được để cho yên một mình trong tuần cuốI cùng của tôi. Mẹ tôi kéo tôi xung quanh đến những ngôi nhà lớn khác ở Lhasa để tôi có thể bày tỏ sự kính trọng, không phảI là tôi có cảm giác kính trọng thực sự! Mẹ tôi tham dự tất cả các cuộc hành trình, trong tất cả các cuộc trao đổI mang tính xã hộI, và trong sự lịch sự ba hoa tí chút mà chúng làm thành những vòng tròn hàng ngày. Tôi chán ngấy; đốI vớI tôi tất cả những thứ này là một cực hình thực sự khi tôi chắc chắn không phảI là được sinh ra vớI những tính chất làm cho một ngườI chịu đựng những trò ngu xuẩn. Tôi muốn được đi ra bên ngoài tận hưởng niềm vui của tôi trong một vài ngày còn lại. Tôi muốn được đi ra ngoài để thả diều, nhảy xa vớI những cây sào, và thực tập bắn cung, thay vào đó tôi phảI bị kéo đi xung quanh như một con yak làm phần thưởng, được khoe cho những phụ nữ già lôi thôi lếch thếch mà họ không có việc gì làm trong suốt cả ngày ngoạI trừ việc ngồI trên những cái gốI lụa và gọI vào một ngườI giúp việc để làm vừa lòng những ý định nhỏ nhất vừa nảy ra của họ.
Nhưng không chỉ có mẹ tôi là ngườI đã gây ra cho tôi nhiều thứ bực tức. Cha tôi phảI đi thăm tu viện Drebung và tôi được dẫn đi cùng để xem nơi đó. Drebung là tu viện lớn nhất trên thế giớI, vớI mườI ngàn nhà sư, những đền thờ cao, những căn nhà bằng đá, và những toà nhà có sân thượng nhô lên lớp này đến lớp khác. Cộng đồng này giống như là một thành phố có tường vây quanh, và như là một thành phố tốt, nó là tự cung tự cấp. Drebung có nghĩa là “Đống Gạo”, và từ một khoảng cách khá xa nó thật sự giống như là một đống gạo, vớI những toà tháp và những mái vòm bóng lên trong ánh sáng. Chỉ là vào lúc đó tôi không ở trong tâm trạng tán thưởng những vẻ đẹp kiến trúc đó: tôi đang cảm thấy hết sức cau có về việc bỏ phí đi những thì giờ quý báu như thế này.
Cha tôi đang bận rộn vớI vị hoà thượng viện chủ và những phụ tá của ông ta, và tôi, giống như là một vật lang thang trong cơn bão, đi dạo một cách chán chường xung quanh. Nó làm tôi rùng mình hoảng sợ khi tôi thấy những chú tiểu nhỏ bị đốI xử như thế nào. Đống Gạo thật sự là bảy tu viện gom lạI thành một; bảy hệ khác nhau, bảy trường riêng biệt tạo thành toàn thể. Nó lớn cho đến nỗI mà không phảI là một ngườI coi sóc tất cả cơ ngơi. Có mườI bốn vị hoà thượng viện chủ và họ thật sự là những nhà giữ kỷ luật nghiêm khắc. Tôi thật sự vui mừng khi “cuộc dạo chơi vui vẻ ngang qua đồng bằng ngập nắng”—nguyên văn lờI cha tôi – đã đến lúc kết thúc, nhưng vui mừng hơn khi biết rằng là tôi sẽ không bị giao phó cho Drebung, hay là Sera, ba dặm về phía bắc của Lhasa.
CuốI cùng thì tuần đó cũng đến hồI kết thúc. Những con diều của tôi bị lấy đi khỏI tôi và đem cho ngườI khác; những cái cung và những mũi tên lông chim đẹp đẽ của tôi bị bẻ gãy để đánh dấu sự kiện rằng tôi không còn là một đứa trẻ nữa và không cần dùng đến những thứ đó. Tôi cảm thấy rằng trái tim của tôi cũng tan vỡ, nhưng không một ai dường như nghĩ rằng điều đó là quan trọng.
Vào lúc màn đêm buông xuống cha tôi gọI tôi lên và tôi đi đến phòng của ông, vớI những trang trí lộng lẫy của nó, và những cuốn sách cũ và có giá trị xếp quanh những bức tường. Ông ta đang ngồI bên cạnh của bàn thờ chính, ở trong phòng của ông, và bảo tôi quỳ trước mặt ông. Đây sẽ là Lễ Mở Gia Phả. Trong tập sách lớn đó, rộng khoảng ba feet và dài mườI hai inch, ghi lạI tất cả tất cả các chi tiết của gia đình chúng tôi trong những thế kỉ trước. Nó cho thấy những tên tuổI của những tổ tiên của họ nhà tôi, và đưa ra những việc mà họ đã làm để được nâng lên vị trí quý tộc. Cũng được ghi lạI nơi này những phụng sự mà chúng tôi đã làm cho đất nước và ngườI cầm quyền của chúng tôi. Trên những trang giấy cổ ngả màu vàng tôi đọc lịch sử. Bây giờ, là lần thứ hai, Cuốn Gia Phả đã được mở ra cho tôi. Lần thứ nhất nó được mở ra để ghi lạI ngày tôi được thụ thai và được sinh ra. Nơi đây là những chi tiết mà dựa vào đó những nhà chiêm tinh đã dự báo tương lai. Nơi đây là những sơ đồ đã được chuẩn bị vào thờI điểm đó. Bây giờ chính tôi phảI ký cuốn Gia Phả, bởI vì ngày mai một cuộc sống mớI cho tôi sẽ bắt đầu khi tôi đi vào tu viện.
Những bìa gỗ chạm trổ đã được thay thế một cách chậm chạp. Những cái gài bằng vàng ép chặt những tấm giấy dày làm bằng tay từ gỗ bách. Cuốn Gia Phả khá nặng, ngay cả cha tôi hơi loạng choạng bên dướI sức nặng của nó khi ông ta nhổm để đặt lạI cuốn sách vào cái tráp bằng vàng là nơi bảo quản nó. Một cách kính trọng ông ta quay lại để hạ cái tráp thấp xuống vào nơi hốc đá sâu phía dướI bàn thờ. Trên một lò than nhỏ bằng bạc ông hơ nóng sáp, đổ nó lên trên nắp đá của cái hốc, và đóng lên đấy cái triện của ông ta, để cuốn Gia Phả không bị quấy phá.
Ông ta quay về phía tôi và ngồI xuống một cách thoảI mái trong những cái gối. Một cái chạm nhẹ vào cái cồng ở khuỷu tay ông ta, và một ngườI giúp việc mang vào cho ông ta trà bơ. Có một sự yên lặng kéo dài, và sau đó ông ta kể cho tôi nghe về lịch sử bí ẩn của Tây Tạng; lịch sử đi ngược về hàng ngàn hàng ngàn năm về trước, một câu chuyện mà nó xưa hơn cả Trận Hồng Thuỷ. Ông ta kể tôi nghe về thờI gian khi mà Tây Tạng đã được vỗ về bởI một biển cổ đạI, và làm thế nào mà những sự khai quật đã chứng minh điều đó. Ngay cả bây giờ, ông nói, bất cứ ai đào gần Lhasa cũng có thể đem ra ánh sáng những loạI động vật biển hoá thạch và những vỏ sò hến kì lạ. Cũng có những thứ dụng cụ làm bằng kim loạI lạ vớI những công dụng không biết được. Rất thường xuyên các nhà sư những ngườI đi thăm viếng một số hang động nhất định trong quận sẽ khám phá ra chúng và đem về cho cha tôi. Ông ta đưa cho tôi xem một số thứ. Sau đó tâm trạng của ông ta thay đổi.
“BởI vì Luật Lệ, đốI vớI những ngườI sinh ra trong dòng dõi quý tộc nên được bày tỏ bằng sự khổ hạnh, trong khi đốI vớI những ngườI tầng lớp thấp nên được bày tỏ bằng tình thương,” ông nói. “Con sẽ phảI trảI qua một sự thử thách gắt gao trước khi con phép vào tu viện.” Ông ra lệnh cho tôi sự cần thiết hoàn toàn của sự tuân theo tuyệt đốI các mệnh lệnh sẽ được đưa ra cho tôi. Những lờI bình luận cuốI cùng của ông không mang lạI một giấc ngủ đêm tốt lành; ông nói: “Con nghe đây, con nghĩ rằng ta khó tính và không quan tâm; nhưng ta chỉ lo cho danh dự của gia đình. Ta nói vớI con: nếu như con thất bạI trong cuộc thi vào tu viện, không nên trở về nơi đây nữa. Con sẽ là như ngườI lạ đốI vớI gia đình này.” VớI điều này, và không thêm một lờI nào nữa, ông ra hiệu cho tôi rờI khỏI ông.
Vào lúc đầu buổI tốI tôi đã nói những lờI từ biệt vớI chị Yaso. Chị đã buồn, bởI vì chúng tôi đã chơi đùa cùng nhau thường xuyên và chị bây giờ chỉ mớI chín tuổI, trong khi tôi sẽ lên bảy tuổI – vào ngày mai. Mẹ tôi chẳng thấy ở đâu cả. Bà đã đi ngủ và tôi không thể nói lờI tạm biệt bà. Tôi đi lủI thủI về phòng riêng của tôi cho đêm cuốI cùng và bố trí những cái đệm làm thành giường của tôi. Tôi nằm xuống, nhưng không ngủ. Trong một thờI gian dài tôi nằm đó nghĩ về những thứ mà cha tôi đã nói vớI tôi vào đêm đó. Nghĩ về sự không thích mà cha tôi đốI xử vớI con cái, và nghĩ về ngày mai đáng sợ khi mà lần đầu tiên tôi sẽ ngủ ở xa nhà. Dần dần mặt trăng di chuyển ngang qua bầu trời. Bên ngoài một con chim đêm vẫy cánh trên ngưỡng cửa sổ. Từ trên mái nhà bên trên vang đến tiếng flap-flap của những lá cờ cầu nguyện vỗ vào những cái cột gỗ trơ trụi. Tôi trôi vào giấc ngủ, nhưng khi những tia sáng mờ mờ của mặt trờI thay thế ánh sáng của mặt trăng, tôi bị đánh thức dậy bởI một ngườI giúp việc và được đưa cho một chén tsampa và một tách trà bơ. Khi tôi đang ăn những thức ăn đạm bạc này, Tzu xộc vào phòng. “Vậy là, chú nhóc”, ông nói,”con đường của chúng ta tách ra từ đây. Cám ơn trờI về điều đó. Bây giờ ta có thể trở lạI vớI những con ngựa của ta. Nhưng xử sự cho tốt; hãy nhớ lấy tất cả những thứ mà ta đã dạy cho chú.” VớI lờI đó ông ta quay gót và rờI khỏI phòng.
Mặc dù là tôi đã không nhận thức được vào lúc đó, đây là cách tốt bụng nhất. Những cuộc chia tay nhiều tình cảm sẽ làm mọI thứ sẽ rất là khó khăn hơn cho tôi để rờI xa nhà – cho lần đầu tiên, cho mãi mãi, như là tôi nghĩ. Nếu như mẹ tôi đã thức dậy để đưa tiễn tôi đi thì không còn nghi ngờ gì là tôi sẽ cố gắng thuyết phục bà cho phép tôi được ở lạI nhà. Rất nhiều trẻ em Tây Tạng đã có những cuộc đời dễ dàng, cuộc đờI của tôi gian khó bằng bất kì tiêu chuẩn nào, và sự thiếu hụt của các cuộc chia tay, như là sau này tôi tìm ra, là do lệnh của cha tôi, để mà tôi nên học lấy kỉ luật và sự cứng rắn sớm trong cuộc đời.
Tôi ăn xong bữa điểm tâm, cất chén tsampa và cái cốc vào phía trước của áo, và xếp một bộ quần áo dự phòng và một đôi giày ống bằng nỉ vào trong một cái bọc. Khi tôi băng qua phòng một ngườI giúp việc mờI tôi đi nhè nhẹ và đừng làm đánh thức cả nhà. Dọc xuống hành lang tôi đi. BuổI bình minh giả đã được thay thế bằng bóng tốI đến trước khi buổI bình minh thực sự khi tôi dò bước xuống từng bậc thang và ra tớI đường cái. Như vậy là tôi đã rờI xa nhà tôi. Cô độc, sợ hãi, và buồn phiền tận đáy lòng.
Filed under: The Third Eye
Chương 2
Sự kết thúc của tuổi thơ của tôi
“Ow! Yulgye, ông sẽ kéo bay mất đầu của tôi! Tôi sẽ trở nên hói như là một thầy tu nếu như ông không chịu dừng lại.”
“Hãy ngồI yên nào, Thứ ba Lobsang. Đuôi sam của con phảI ngay thẳng và được tẩm bơ nếu không thì Lệnh bà mẹ của con sẽ lột da của ta.”
“Nhưng Yulgye, ông không phảI làm mạnh như thế, ông sẽ vặn rơi đầu của tôi.”
“Ồ, ta không thể lo ngạI về điều đó, ta đang vội.”
Thế là tôi đang ở đây, ngồI trên sàn nhà, vớI một ngườI giúp việc thô bạo đang cuộn xoắn tôi lạI bằng cái đuôi sam! CuốI cùng thì cái đuôi sam khốn khổ đó cũng cứng lạI như một con yak đông lạnh, và sáng rực lên như ánh trăng trên mặt hồ.
Mẹ tôi đang ở trong một cơn lốc xoáy, đi xung quanh nhanh đến mức tôi cảm thấy gần như thể là tôi có một vài ngườI mẹ. Có những mệnh lệnh ở phút cuốI cùng, những chuẩn bị cuốI cùng, và rất nhiều thảo luận sôi nổi. Yaso, chỉ hai tuổI lớn hơn tôi, cũng lăng xăng tớI lui như là một phụ nữ ở tuổI bốn mươi. Cha tôi đã đóng cửa lạI ở trong phòng riêng của ông ta và xa rờI mọI sự náo nhiệt. Tôi mong là tôi có thể vào đấy cùng vớI ông ta!
Vì một lý do nào đó mà mẹ tôi đã bố trí cho chúng tôi đi đến Jo-kang, Nhà thờ của Lhasa. Rõ ràng là chúng tôi phảI đưa ra một không khí tôn giáo cho những nghi thức sau đó. Vào khoảng mườI giờ sáng (thờI gian ở Tây Tạng rất đàn hồI), một tiếng cồng ba tiếng vang lên để gọI chúng tôi vào điểm tập hợp. Tất cả chúng tôi đều leo lên những con ngựa nhỏ, cha tôi, mẹ tôi, Yaso, và thêm khoảng năm ngườI khác, gồm cả tôi một cách miễn cưỡng. Chúng tôi rẽ băng ngang đường Lingkhor, và rẽ trái ở chân của điện Potala. Đây là một ngọn núi của các toà nhà, cao bốn trăm feet và dài một ngàn hai trăm feet. Chúng tôi đi băng ngang làng Sho, dọc theo đồng bằng Kyi Chu, cho đến nửa giờ sau chúng tôi đã đứng trước Jo-kang. Xung quanh nó là một nhóm các căn nhà nhỏ, các quầy và các quán bán hàng để thu hút các khách hành hương. Một ngàn ba trăm năm qua Nhà thờ đã đứng ở nơi này để chào đón những ngườI sùng đạo. Bên trong, những sàn nhà bằng đá đã mòn đi sâu vài inch bởI sự qua lạI của quá nhiều ngườI đến thờ cúng. Những ngườI khách hành hương di chuyển một cách thành kính xung quanh Đường Vòng Bên Trong, mỗI ngườI xoay hàng trăm bánh xe cầu nguyện khi họ đi ngang qua, và lặp lạI không ngừng câu thần chú: Om! Mani padme Hum!
Những cột gỗ khổng lồ, đen vì tuổI tác, chống đỡ mái đền, và mùi hương đậm đặc của những nén nhang luôn được đốt cháy trôi bập bềnh xung quanh như những đám mây nhẹ mùa hè trên ngọn núi. Xung quanh các bức tường là các bức tượng bằng vàng của các vị thần linh của tín ngưỡng của chúng tôi. Những tấm lướI kim loạI, vớI mắt lướI thưa để không chắn đi tầm nhìn, bảo vệ những bức tượng khỏI những con ngườI mà lòng tham lớn hơn sự thành kính của họ. Đa số các bức tượng quen thuộc một phần được chôn bởI những viên đá quý và những viên ngọc chất đầy xung quanh chúng bởI những ngườI sùng đạo đi tìm sự phùhộ. Những giá đỡ nến bằng vàng khốI đỡ lấy những ngọn nến cháy sáng liên tục, và những ánh sáng đó đã chưa bao giờ tắt đi trong suốt một ngàn ba trăm năm qua. Từ những nơi sâu kín tốI tăm vang lên tiếng chuông, tiếng cồng, và những tiếng tù và trầm trầm inh tai. Chúng tôi làm thành một vòng như là truyền thống yêu cầu.
Sự thành kính của chúng tôi đã hoàn thành, chúng tôi đi tiếp đến mái nhà bằng phẳng. Chỉ có một vài ngườI đặc cách được phép đi đến nơi này; cha tôi, như là một trong những NgườI Canh Giữ, luôn luôn đi đến.
Dạng của những nhà nước của chúng tôi (vâng đúng là số nhiều), có lẽ là một điểm thú vị.
Là ngườI đứng đầu của Nhà nước và Nhà thờ, Toà thượng thẩm cuốI cùng, là Đức Dalai Lama. Bất kì ai trong đất nước cũng có thể thỉnh cầu ngài. Nếu như lờI thỉnh cầu hoặc yêu cầu là công bằng, hoặc nếu như một điều bất công đã xảy ra, Đức Dalai Lama thấy rằng là yêu cầu được chấp thuận, hoặc là điều bất công đã được sửa sai. Không phảI là vô lý khi nói rằng mọI ngườI trong đất nước, có lẽ là không có ngoạI lệ, hoặc là yêu thích hoặc là kính trọng Ngài. Ngài là một ngườI cầm quyền; ngài sử dụng quyền uy và sự thống trị, nhưng không bao giờ ngài sử dụng những điều này cho những lợI ích cá nhân, chỉ cho sự tốt lành của đất nước. Ngài biết trước sự xâm lược của quân cộng sản sắp tớI, mặc dù là điều đó sẽ xảy ra rất nhiều năm sau đó, và sự che mờ tạm thờI của sự tự do, đó là tạI sao một số ít của chúng tôi được huấn luyện một cách đặc biệt để cho nghệ thuật của các nhà tu hành không nên bị lãng quên.
Đằng sau Đức Dalai Lama có hai HộI Đồng, đó là tạI sao tôi đã viết rằng “những nhà nước”. Cái đầu tiên là HộI đồng Giáo hội. Bốn thành viên của hộI đồng này là bốn nhà sư ở cấp bậc Lama. Họ chịu trách nhiệm, dướI sự chỉ đạo của Đức Dalai Lama, cho tất cả các việc trong các tu viện nam và các tu viện nữ. Tất cả các việc thuộc về giáo hộI đều đến trước họ.
HộI đồng các Bộ trưởng theo sau đó. HộI đồng này có bốn thành viên, ba ngườI thường và một tu sỹ. Họ đốI phó vớI những công việc của toàn bộ đất nước, và có trách nhiệm trong việc hợp nhất Nhà thờ và Nhà nước.
Hai viên chức, có thể được gọi là hai Thủ tướng, cho những điều mà họ làm, hành xử như hai “Viên chức Liên lạc” giữa hai HộI đồng, và đưa ra những cách nhìn của họ trước vị Dalai Lama. Họ đóng những vai trò cực kì quan trọng trong suốt những cuộc họp hiếm có của Quốc hội. Đây là một hộI đồng bao gồm khoảng năm mươi ngườI đàn ông đạI diện cho tất cả các gia đình quan trọng nhất và các tu viện ở Lhasa. Họ chỉ nhóm họp trong suốt những dịp cực kì khẩn cấp, chẳng hạn như là vào năm 1904, khi Đức Dalai Lama đi sang Mông Cổ khi quân Anh quốc xâm lược Lhasa. NốI kết về điều này, rất nhiều ngườI phương Tây có một khái niệm kì lạ là Đức Dalai Lama đã hèn nhát “chạy đi mất”. Ngài đã không “chạy đi”. Những cuộc chiến tranh trên đất Tây Tạng có thể được so sánh như một ván cờ. Nếu như quân vua bị chiếm lấy, ván cờ là thắng. Đức Dalai Lama là “vua” của chúng tôi. Nếu không có ngài thì sẽ không có gì để chiến đấu cho: ngài phảI đi vào nơi an toàn để giữ cho đất nước toàn vẹn. Những ngườI kết tộI ngài là hèn nhát trong bất kì dạng nào không biết những gì mà họ đang nói đến.
Quốc hộI có thể được tăng lên đến bốn trăm thành viên khi tất cả các lãnh tụ từ các tỉnh thành cùng vào. Có tất cả năm tỉnh: Thủ đô, như là Lhasa hay thường được gọI, là ở trong tỉnh U-Tsang. Shigatse là ở trong cùng một quận. Gartok là phía tây của Tây Tạng, Chang là phía bắc của Tây Tạng, trong khi Kham và Lho-dzong là những tỉnh ở phía đông và phía nam theo thứ tự đó. VớI sự qua đi cũng nhiều năm Đức Dalai Lama tăng dần quyền lực của ngài và sự tăng này càng ngày càng nhiều mà không cần đến sự giúp đỡ của những HộI đồng Nhà nước hay là của Quốc hội. Và chưa từng bao giờ mà đất nước được điều hành tốt hơn lúc này.
Đồng bằng Lhasa, xanh mướt và tươi tốt và lốm đốm những cây cối. Nước óng ánh theo những rặng cây, những dòng sông của Lhasa chảy róc rách dọc theo đó để đổ vào sông Tsang Po cách xa đó bốn mươi dặm. Về phía bắc và phía nam nổI lên những dãy núi vĩ đạI bao quanh thung lũng của chúng tôi và làm cho chúng tôi có vẻ như là cách biệt vớI phần còn lạI của thế giới. Những tu viện nhan nhản khắp các tầng thấp hơn. Cao hơn, những tu viện khổ hạnh được đặt trên cao bấp bênh trên những dốc đá dựng đứng. Về phía tây là bóng của dãy núi đôi Potala và Chakpori, cái sau được biết đến như là Đền thờ về Y học. Chính giữa những dãy núi này là Cổng Tây sáng lấp lánh trong ánh sáng lạnh của buổI ban mai. Nền trờI là một màu hồng sâu thẳm được nhấn mạnh bởI màu trắng trong suốt của tuyết trên những dãy núi xa xa. Ánh sáng, những dảI mây mỏng trôi bồng bềnh trên cao phía trên đầu. Rất gần hơn, trong chính thành phố, chúng tôi nhìn xuống Toà nhà HộI đồng Thành phố náu mình dựa vào tường phía bắc của Nhà thờ. Kho bạc khá là gần, và xung quanh đó là những quầy hàng của các thương gia và chợ mà trong đó ngườI ta có thể mua bất kì thứ gì. Gần nơi đó, hơi chếch về phía đông, một tu viện nữ chen lấn vớI vùng ngoạI vi của Nơi Bỏ NgườI Chết.
Trong những nền của Nhà thờ có những lờI lảm nhảm không bao giờ chấm dứt của những khách thăm viếng đến nơi này, một trong những nơi linh thiêng nhất của Phật giáo. Những lờI thì thầm của những tín đồ đã du hành qua một đoạn đường xa, và là những ngườI đã mang đến những lễ vật trong hy vọng đạt được một sự phù hộ linh thiêng. Một số ngườI khác đem đến những con vật được cứu sống khỏI các ngườI mổ thịt, và mua chúng vớI những đồng tiền hiếm có. Có nhiều đức hạnh trong việc cứu sống một đờI sống, của con vật và của con ngườI, và nhiều công đức sẽ được dồn lại.
Khi chúng tôi đứng nhìn chăm chăm tạI những cảnh cũ nhưng cũng luôn luôn mới, chúng tôi nghe tiếng các nhà sư lên bổng xuống trầm trong các lờI hát thánh ca, tiếng trầm của các ngườI lớn tuổI và tiếng bổng của các người phụ tá. Có tiếng ầm ầm và tiếng bùm bùm của các cái trống và các âm nhạc vàng của các kèn trumpet. Những tiếng kèn te te, những tiếng đập mạnh bị bóp nghẹt, và một cảm giác như là bị vướng vào trong một lưới thôi miên của những tình cảm.
Những nhà sư xung quanh đang tất bật giảI quyết những công việc khác nhau của họ. Một số mặc áo vàng và một số mặc áo đỏ tía. Nhiều hơn cả là những nhà sư trong áo màu nâu đỏ nhạt, đây là những nhà sư “bình thường”. Những ngườI vớI nhiều màu vàng đến từ Potala, cũng như những ngườI mặc lễ phục màu đỏ anh đào. Những phụ tá mặc áo trắng, và những nhà sư công an trong màu nâu sẫm đi lăng xăng xung quanh. Tất cả, hoặc gần như là tất cả, có một thứ là điểm chung: bất kể là áo quần của họ mớI như thế nào, họ hầu hết tất cả đều có những miếng vá mà chúng là bản sao của những miếng vá trên áo của Buddha. Những ngườI nước ngoài đã từng thấy các nhà sư Tây Tạng, hoặc là từng thấy những bức ảnh về họ, đôi khi có những để ý về sự hiện diện của những “miếng vá”. Những miếng vá, như vậy, là một phần của bộ quần áo. Những nhà sư của tu viện một ngàn hai trăm năm tuổI Ne-Sar làm một cách thích hợp hơn là làm cho các miếng vá có màu sáng hơn!
Những nhà sư mặc áo đỏ là của Nhà Thờ; có nhiều sắc đỏ được làm ra do cách thức mà tấm vảI len được nhuộm. Từ nâu đỏ đến đỏ gạch, nó vẫn là “đỏ”. Một số nhà sư viên chức chỉ được phân công ở Potala mặc những áo khoác không có tay áo màu vàng bên trên những bộ áo màu đỏ của họ. Màu vàng óng là màu linh thiêng ở Tây Tạng – vàng không thể nào xỉn đi và luôn luôn trong sáng – và đó là màu chính thức của Đức Dalai Lama. Một số nhà sư, hoặc các lama bậc cao là những ngườI thân cận của Đức Dalai Lama, được phép mặc áo vàng bên trên những áo đỏ thường ngày của họ.
Khi chúng tôi đang nhìn qua mái của Jo-kang chúng tôi có thể thấy rất nhiều tượng được mạ vàng, và hiếm khi thấy một viên chức của Đỉnh núi. Chúng tôi nhìn lên những lá cờ cầu nguyện đang bay phần phật, và nhìn những mái vòm lộng lẫy của Nhà thờ. Bầu trờI trông thật tuyệt đẹp, màu tía, vớI lốm đốm những đám mây mỏng manh, như thể là một ngườI hoạ sỹ đã vẩy nhẹ lên nền thiên đường vớI một cọ đầy màu trắng. Mẹ tôi phá vỡ sự im lặng: “Thế thôi, chúng ta đang phí thờI giờ, tôi chợt giật mình nghĩ về các ngườI giúp việc đang làm những gì. Chúng ta phảI vộI về thôi!” Thế là trên những con ngựa nhỏ kiên nhẫn của chúng tôi, lóc cóc dọc theo đường Lingkhor, mỗI bước mang tôi đến gần hơn cái mà tôi gọI là “Cực hình”, nhưng mẹ tôi lạI cho rằng đó là “Ngày Trọng đạI” của bà.
Khi quay trở lạI nhà, mẹ tôi đã có một kiểm tra cuốI cùng của tất cả mọI thứ đã được làm xong và sau đó chúng tôi có một bữa ăn để chuẩn bị cho chúng tôi cho những sự kiện sắp xảy đến. Chúng tôi biết rất rõ rằng vào những thờI gian như là những dịp như thế này, những ngườI khác sẽ no đầy đủ và thỏa mãn, nhưng những ngườI chủ nhà khốn khổ bụng sẽ trống rỗng. Sẽ không có thờI gian cho chúng tôi ăn sau đó.
VớI rất nhiều tiếng leng keng của các nhạc cụ, các nhà sư nhạc công đã đến và được đưa vào trong những khu vườn. Họ nặng trĩu vớI những kèn trumpet, clarinet, những cồng chiêng, và những cái trống. Những cái chũm choẹ của họ được họ đeo vòng trên cổ. Họ đi vào trong vườn, vớI rất nhiều câu chuyện huyên thuyên, và gọI bia để đưa họ vào trong một trạng thái phù hợp để chơi nhạc cho tốt. Trong nửa giờ kế tiếp có những tiếng kèn, những tiếng te te đinh tai từ các kèn trumpet khi những nhà sư đang chuẩn bị cho những nhạc cụ của họ.
Những tiếng om sòm bất chợt vang lên trong sân nhà khi những ngườI khách đầu tiên được nhìn thấy, đang phi đến trong một đoàn ngườI cỡi ngựa mang vũ khí vớI những cờ hiệu bay phấp phới. Những cổng ra vào được mở tung, và hai hàng những ngườI giúp việc xếp dọc hai bên để đón chào những đoàn khách đến. NgườI quản gia vớI hai ngườI phụ tá cầm sẵn trên tay một xấp nhiều loại khăn lụa được dùng ở Tây Tạng như là một hình thức của sự nghênh đón. Có tám loạI chất lượng của các khăn lụa, và những cái khăn theo đúng loạI phảI được trình ra hoặc nếu không một sự xúc phạm có thể được hiểu ngầm! Đức Dalai Lama chỉ ban, và nhận, chỉ là loạI hạng nhất. Chúng tôi gọI những cái khăn này là “khata”, và phương pháp trình ra là như thế này: ngườI cho, nếu cùng cấp bậc, đứng xa về phía sau vớI đôi tay đưa ra hết về phía trước. NgườI nhận cũng phảI đứng lùi xa về phía sau đưa hai tay hết về phía trước. NgườI cho cúi đầu chào trong một chút và đặt cái khăn ngang qua hai cổ tay của ngườI nhận, cũng đang cúi đầu chào, lấy cái khăn từ hai cổ tay, lật qua trong sự đồng ý, rồI đưa cho ngườI giúp việc. Trong trường hợp mà ngườI cho đưa một cái khăn cho một ngườI có cấp bậc cao hơn, ông ta hay bà ta phảI quỳ xuống vớI lưỡI đưa ra (một cách chào của Tây Tạng giống như là cất mũ lên chào) và đặt cái khata dướI chân của ngườI nhận. NgườI nhận trong những trường hợp như vậy đặt chiếc khăn vòng qua cổ của ngườI cho. Ở Tây Tạng, những món quà phảI luôn luôn được đi kèm vớI những khata thích hợp, cũng phảI đi kèm vớI những lá thư chúc mừng. Nhà nước sử dụng những khăn vàng thay thế cho những khăn trắng bình thường. Đức Dalai Lama, nếu ngài có ý muốn trưng bày một danh dự cao nhất cho một ngườI, sẽ đặt một khata xung quanh cổ của ngườI đó và buộc một dảI lụa đỏ vớI ba nút thắt vào trong khăn. Nếu cùng lúc đó ngài đưa bàn tay ngửa lên — ngườI đó thật sự được vinh dự. Chúng tôi những ngườI Tây Tạng là những ngườI có niềm tin vững chắc rằng lịch sử của một ngườI được viết lên trên lòng bàn tay của ngườI đó, và Đức Dalai Lama, khi đưa bàn tay của ngài ra, sẽ chứng minh những ý định thân thiện nhất đốI vớI ngườI đó. Trong những năm tháng sau này tôi đã có được vinh dự đó hai lần.
NgườI quản gia đứng tạI cửa ra vào, vớI mỗi ngườI phụ tá ở mỗI bên. Ông ta sẽ cúi chào những ngườI mớI đến, nhận khata của họ, và chuyền nó sang cho ngườI phụ tá ở bên tay trái. Vào cùng lúc đó ngườI phụ tá ở tay phảI sẽ đưa cho ông ta loạI khăn đúng thứ bậc để đưa lạI vớI lờI đáp lễ. Cái khăn này ông ta sẽ lấy rồI đặt ngang hai cổ tay, hoặc vòng qua cổ (tuỳ thuộc vào cấp bậc), của ngườI khách. Tất cả những cái khăn này được sử dụng và tái sử dụng.
NgườI quản gia và hai ngườI phụ tá đang càng ngày càng trở nên bận rộn. Những ngườI khách đang đến vớI số lượng lớn. Từ những khu nhà lân cận, từ thành phố Lhasa, và từ những quận nằm bên ngoài, họ tấtcả đều đến lóc cóc dọc theo đường Lingkhor, để rẽ vào con đường riêng của chúng tôi dướI bóng của điện Potala. Những ngườI phụ nữ đã đi qua một đoạn đường dài đeo những mặt nạ che bằng da để bảo vệ làn da và da mặt khỏI những cơn gió mang đầy hạt sạn. Thông thường một sự giống nhau thô thiển của những nét mặt của ngườI mang mặt nạ sẽ sơn vẽ lên mặt nạ. Đi đến điểm kết thúc, ngườI phụ nữ sẽ gỡ bỏ mặt nạ của cô ta cùng vớI áo khoác bằng da yak. Tôi luôn luôn lấy làm thích thú bởI những nét vẽ sơn trên những mặt nạ, ngườI phụ nữ càng già hay càng xấu, thì những nét vẽ trên mặt nạ càng đẹp và càng tươi trẻ!
Trong nhà có rất nhiều hoạt động. Nhiều và càng nhiều hơn các đệm ngồI được đem ra từ các nhà kho. Chúng tôi không sử dụng ghế ở Tây Tạng, nhưng ngồI xếp bằng trên những cái đệm mà chúng rộng khoảng hai feet rưỡI vuông và dày khoảng chín inch. Cũng những cái đệm đó được dùng để ngủ trên đó, nhưng nhiều cái được xếp lạI vớI nhau. ĐốI vớI chúng tôi chúng tiện nghi hơn ghế ngồI hay những giường cao rất nhiều.
Những ngườI khách vừa đến được đưa cho trà pha bơ và được dẫn vào một phòng lớn đã được chuyển thành một nhà ăn. Nơi này họ có thể chọn những thức ăn nhẹ để họ có thể chịu đựng cho đến khi bữa tiệc thực sự bắt đầu. Vào khoảng bốn mươi phụ nữ của các gia đình hàng đầu đã đến, cùng vớI những ngườI hầu nữ của họ. Một số các cô gái được tiếp đón và trò chuyện bởI mẹ tôi, trong khi những cô khác đi vòng quanh nhà, nhìn ngắm những thứ đồ đạc, và đoán giá trị của chúng. Chỗ này dường như là tràn đầy phụ nữ vớI đủ các hình dáng, kích thước, và tuổI tác. Họ xuất hiện từ những nơi bất thường nhất, và không ngần ngạI một chút nào để hỏI những ngườI giúp việc đi ngang qua về giá cả của thứ này, hoặc cái kia có giá trị như thế nào. Họ cư xử, nói tóm lạI, như là phụ nữ trên toàn thế giới. Chị Yaso cũng đi vòng quanh trong những áo quần rất mớI, vớI tóc được làm theo kiểu mà chị cho rằng đó là kiểu mớI nhất, nhưng đốI vớI tôi có vẻ chẳng đẹp; nhưng tôi luôn luôn có thành kiến khi đụng đến chuyện phụ nữ. Chắc chắn rằng là vào ngày này những thành kiến đó có vẻ như là đi vào đầu tôi.
Có một tập hợp các phụ nữ khác làm vấn đề phức tạp: những phụ nữ quý tộc ở Tây Tạng được biết là có những kho quần áo khổng lồ, và những thứ nữ trang phong phú. Những thứ này bà ta phảI phô trương ra, và vì điều này sẽ dẫn tớI nhiều sự thay quần áo và sửa soạn, những cô gái đặc biệt – “những cô gái chưng” – được thuê để hành xử như là những ngườI mẫu. Họ diễu hành xung quanh trong áo quần của mẹ tôi, ngồI và uống một số không đếm được các tách trà bơ, và sau đó họ đi vào trong và thay vào những bộ áo quần và đồ trang sức mới. Họ trà trộn vớI những ngườI khách và trở thành, vớI tất cả những ý định và mục đích, những ngườI nữ chủ nhân phụ giúpc cho mẹ tôi. Trong suốt ngày hôm nay những ngườI phụ nữ này sẽ thay đổI xiêm áo có lẽ năm hay sáu lần.
Những ngườI đàn ông có vẻ thích thú hơn vớI những nhạc công trong các khu vườn. Một đoàn các diễn viên nhào lộn đã được đem vào để góp thêm một chút vui. Ba ngườI trong bọn họ đã chống lên một cái cột cao khoảng mườI lăm feet, và ngườI diễn viên còn lạI leo lên cao và đứng lộn ngược đầu anh ta trên đỉnh cột. Sau đó những ngườI khác giật lấy cây cột đi, để cho anh ta rơi xuống, xoay vòng, và hạ xuống giống như một con mèo trên hai tay hai chân của anh ta. Một số đứa trẻ nhỏ đang đứng xem, và ngay lập tức chạy vộI đi đến một chỗ vắng để bắt chước lạI màn trình diễn. Chúng tìm thấy một cây cột cao vào khoảng tám đến mườI feet, chống nó lên, và đứa gan dạ nhất sẽ trèo lên cao và cố gắng đứng lộn ngược trên đầu của nó. Nó té nhào xuống, vớI một tiếng “crump” đáng sợ, thẳng vào đỉnh đầu của những đứa khác. Tuy nhiên, những cái đầu của chúng khá cứng, và ngoạI trừ những cục u to bằng quả trứng, không có tác hạI nào cả.
Mẹ tôi xuất hiện, dẫn theo đoàn còn lạI của các cô phụ nữ để xem những trò giảI trí, và lắng nghe âm nhạc. Những thứ sau không khó lắm; những ngườI nhạc công bây giờ đã được hâm nóng vớI những lượng bia Tây Tạng một cách hậu hỉ.
Cho dịp này, mẹ tôi đặc biệt ăn mặc rất đẹp và sang trọng. Bà ta mặc một cái váy làm từ len của yak vớI một màu nâu đỏ nhạt sẫm, kéo dài gần đến hai cổ chân. Hai đôi giày cao cổ bằng nỉ của Tây Tạng là vào loạI trắng nhất, vớI đế giày màu đỏ máu, và những viền đỏ được bố trí trang nhã.
Áo khoác bolero của bà có màu vàng hơi đỏ, một cách nào đó giống như màu của áo thầy tu của cha tôi. Trong những ngày đi học y khoa của tôi sau này, tôi nên mô tả nó như là “chất I-ốt trên băng vết thương”! Phía dướI nó bà mặc một áo lụa màu tía. Những màu sắc này hài hoà vớI nhau, và đã được chọn để tiêu biểu cho nhiều cấp bậc của các áo của các nhà sư.
Choàng qua vai bên phảI của bà là một khăn lụa thêu kim tuyến mà nó được thắt lạI bên trái của hông bà bởI một vòng khuyên lớn bằng vàng. Từ phía vai đến nút thắt ở thắt lưng của khăn lụa là màu đỏ thắm, nhưng từ nơi đó nó chuyển màu từ vàng chanh nhạt đến màu vàng nghệ sẫm khi nó đạt đến đường viền của cái váy.
Xung quanh cổ bà là một sợI dây chuyền bằng vàng treo vào đó là ba bọc bùa hộ mạng mà bà ta luôn mang. Những bọc bùa này đã được tặng cho bà trong ngày bà cướI cha tôi. Một cái từ gia đình của bà, một cái từ gia đình cha tôi, và một cái, một vinh dự hiếm có, là từ Đức Dalai Lama. Bà cũng mang rất nhiều nữ trang, bởI vì phụ nữ Tây Tạng mang rất nhiều đồ trang sức và nữ trang, bởI vì phụ nữ Tây Tạng mang những đồ nữ trang theo vớI địa vị của họ trong cuộc đời. Một ngườI chồng được mong đợI là sẽ mua nữ trang khi nào ông ta được thăng chức.
Mẹ tôi đã bận rộn trong nhiều ngày qua để xếp tóc thành một trăm lẻ tám nếp gấp, mỗI cái dày vào khoảng một sợI dây bện roi. Một trăm lẻ tám là một con số linh thiêng ở Tây Tạng, và những phụ nữ vớI đủ tóc để làm nên số lượng nếp gấp đó được xem như là những ngườI may mắn nhất. Mái tóc, một phần trong kiểu của Madonna, được đỡ trên một khung gỗ được mang trên đỉnh đầu như một cái nón. Làm bằng gỗ sơn mài màu đỏ, nó được khảm vớI kim cương, ngọc bích, và những đĩa bằng vàng. Mái tóc phủ trên đó giống như là hoa hồng leo trên lướI mắt cáo.
Mẹ tôi có một sợI dây vớI những hình thể san hô treo từ tai của bà. Sức nặng khá lớn đến nỗI mà bà phảI dùng một sợI dây màu đỏ xung quanh tai để đỡ nó, hoặc nếu không sẽ có nguy cơ bị rách tai. Đôi khuyên tai kéo dài gần đến thắt lưng của bà; tôi ngắm nhìn vớI một sự thích thú để xem làm thế nào mà bà ta có thể xoay đầu sang trái!
NgườI ta đi xung quanh, thán phục những khu vườn, hoặc ngồI thành từng nhóm luận bàn về những vấn đề xã hội. Những ngườI phụ nữ, đặc biệt, rất bận rộn vớI những câu chuyện của họ. “Vâng, bạn thân mến, Bà Doring đang cho trảI lạI nền nhà mới. Những viên sỏI mịn được chà sạch cho đến bóng hết mức.” “ Bà có nghe nói về vị lama trẻ đang ở chỗ Bà Rakasha …” etc. Nhưng tất cả mọI ngườI đều thật sự mong đợI cho sự kiện chính trong ngày. MọI thứ này chỉ là sự hâm nóng cho những sự kiện sắp tớI, khi những vị thầy tu – chiêm tinh gia sẽ dự báo trước tương lai của tôi và hướng tôi vào con đường mà tôi nên chọn trong suốt cuộc đời. Dựa vào thông tin của họ mà tôi nên chọn sự nghiệp nào.
Khi ngày trở nên trưa và những cái bóng kéo dài bò nhanh hơn ngang qua sân, những hoạt động của các vị khách trở nên chậm hẳn lại. Họ đã chán ngấy những thức ăn nhẹ, và ở trong một trạng thái tiếp thu. Khi những đống thức ăn trở nên vơi dần đi, những ngườI giúp việc mỏI mệt đem thêm ra và các thứ đó, theo thờI gian cũng hết dần đi. Những ngườI mua vui được thuê cũng trở nên kiệt sức và từng ngườI một lẻn vào những nhà bếp để nghỉ ngơi và để uống bia.
Những ngườI nhạc công vẫn còn sung sức, thổI những kèn trumpet, đập những chũm chọe, đánh những cái trống một cách tự do vui vẻ. VớI tất cả những tiếng ồn và những náo động, những con chim đã bị làm cho sợ hãi bay khỏI những chỗ đậu thông thường của chúng trên những cành cây. Và không chỉ những con chim bị làm cho sợ hãi. Những con mèo đã hấp tấp lặn vào những chỗ lánh nạn an toàn vớI sự đến của những ngườI khách ồn ào đầu tiên. Ngay cả những con chó khổng lồ màu đen tai cụp canh gác nơi này cũng im lặng, những tiếng sủa trầm trầm nín lặng trong giấc ngủ. Chúng đã được cho ăn và cho ăn cho đến khi chúng không thể ăn được nữa.
Trong những khu vườn có tường bao quanh, khi ngày bắt đầu trở nên tốI dần, những đứa trẻ nhỏ chạy qua lạI như những chú lùn giữa các cây um tùm, vẫy những cái đèn bơ sáng và những lư hương tỏa khói, và đôi lúc nhảy vào trong những cành cây thấp cho những trò chơi vô tư.
Lốm đốm xung quanh các sân là những lò hương bằng vàng gửI lên những cột khói dày thơm ngát. Trông nom chúng là những phụ nữ già và họ cũng quay nhanh những bánh xe cầu nguyện lách cách, mỗI vòng xoay của bánh xe gửI lên thiên đường hàng ngàn lờI cầu nguyện.
Cha tôi đang ở trong trạng thái hoảng sợ liên tục! Những khu vườn có tường bao quanh của ông nổI tiếng khắp đất nước bởI những thứ thực vật và cây bụI đắt tiền nhập khẩu. Bây giờ, theo cách suy nghĩ của ông, nơi này giống như là một vườn thú không được bảo quản tốt. Ông ta đi rảo vòng quanh vò đầu bứt tay và thốt lên những tiếng than thở nhỏ khổ sở khi một vị khách nào đó dừng lạI và bẻ một chồI non. Nguy hiểm đặc biệt là những cây mơ và những cây lê, và những cây táo lùn nhỏ nhắn. Những cây lớn hơn và cao hơn, cây dương (poplar), cây liễu (willow), cây bách xù (juniper), cây bulô (birch), và cây bách (cypress), được trang trí vớI những luồng cờ mang lờI cầu nguyện bay nhẹ nhàng phất phơ trong làn gió nhẹ buổI tối.
CuốI cùng thì ngày cũng kết thúc khi mặt trờI lặn xuống đằng sau những đỉnh núi rất xa của dãy Himalaya. Từ những tu viện vang lên những tiếng kèn trumpet báo hiệu lạI một ngày nữa đã trôi qua, và vớI nó hàng trăm đèn-bơ được thắp sáng lên. Chúng treo trên những cành cây, đu đưa từ những mái hiên nhà nhô ra, và những đèn khác trôi trên mặt nước bình yên của cái hồ trang trí. Nơi này chúng bị mắc cạn, giống như những chiếc thuyền trên bãi cát, trên những lá hoa huệ nước, nơi kia chúng đang trôi dạt về phía những con thiên nga nổI trên nước đang tìm chỗ trú ẩn gần nơi hòn đảo.
Một tiếng cồng trầm vang lên, và tất cả mọI ngườI quay lạI xem sự tiến đến của một đám rước. Trong những khu vườn một cái lều to đã được dựng lên, vớI một bên hoàn toàn mở rộng. Bên trong là một cái bục nâng cao trên đó có bốn cái ghế ngồI của Tây Tạng. Bây giờ đám rước đang tiến dần đến cái bục. Bốn ngườI giúp việc mang theo những cây cột dựng đứng, vớI những ngọn lửa sáng lớn ở đầu trên. Sau đó là bốn ngườI thổI kèn trumpet vớI những kèn trumpet bằng bạc thổI lên một tiếng kèn lệnh. Theo sau họ, mẹ tôi và cha tôi tiến đến cái bục và bước lên đó. Sau đó là hai bô lão, đã rất già, từ tu viện của Nhà Tiên Tri của Quốc Gia. Hai vị bô lão này từ Nechung là những nhà chiêm tinh có kinh nghiệm nhất trên toàn đất nước. Những lờI tiên tri của họ đã được chứng minh là đúng không biết là bao nhiêu lần. Tuần trước họ đã được gọI để dự báo cho Đức Dalai Lama. Bây giờ họ sẽ làm một việc tương tự cho một cậu bé bảy tuổi. Trong rất nhiều ngày họ đã rất bận rộn vớI những sơ đồ và những tính toán của họ. Trong rất lâu họ đã thảo luận về những bộ ba hành tinh cách nhau 120 độ, những đường hoàng đạo, những bình phương gấp rưỡI, và những ảnh hưởng đốI nghịch của cái này hay cái kia. Tôi sẽ thảo luận về thuật chiêm tinh trong một chương sau này.
Hai vị lama cầm theo những lờI ghi chép và các sơ đồ của các nhà chiêm tinh gia. Hai vị khác bước về phía trước và giúp đỡ các bô lão tiên tri bước lên các bậc dẫn lên cái bục. Cạnh bên nhau họ đứng đấy, giống như hai bức tượng cổ bằng ngà voi. Những áo choàng lộng lẫy vớI những đường thêu kim tuyến vàng chỉ làm nhấn mạnh thêm tuổI tác của họ. Trên đầu họ độI những mũ thầy tu cao, và những cái cổ nhăn nheo của họ như rủ xuống dướI trọng lượng của chúng.
MọI ngườI tụ tập lạI xung quanh và ngồI trên sàn trên những cái đệm đem ra bởI những ngườI giúp việc. Tất cả các lờI bàn tán chấm dứt, khi mọI ngườI đều căng tai lên để bắt lấy âm thanh chói tai, lanh lảnh của giọng nói của nhà tiên tri chủ toạ. “Lha dre mi cho-nang-chig,” ông ta nói (Những thần linh, ma quỷ và con ngườI đều hành xử trong cùng một cách thức như nhau), do đó những tương lai khả dĩ là có thể tiên đoán được. Tiếp tục ông nói đều đều, trong một tiếng đồng hồ và sau đó dừng lạI cho một nghỉ ngơi ngắn trong mườI phút. BởI còn trong một tiếng đồng hồ sau đó ông ta tiếp tục vạch ra tương lai. “Ha-le! Ha-le!” (Thật là lạ thường! Thật là lạ thường!), vang lên những lờI tán thưởng từ khán giả đã bị làm cho mê hoặc.
Và như vậy đó tương lai đã được tiên đoán. Một cậu bé bảy tuổI sẽ vào một tu viện, sau khi trảI qua một loạt chịu đựng gian khó, và nơi đó sẽ được huấn luyện để trở thành một thầy tu – nhà giảI phẫu. Sẽ chịu nhiều gian khổ lớn, sẽ rờI xa quê nhà, và sẽ đi sống giữa những ngườI xa lạ. Sẽ mất tất cả và phảI bắt đầu lạI một lần nữa, và cuốI cùng sẽ thành công.
Dần dần thì đám đông cũng tan dần. Những ngườI khách đến từ nơi xa sẽ ở lạI qua đêm ở nhà của chúng tôi và sẽ khởI hành vào sáng hôm sau. Những ngườI khác sẽ lên đường vớI đoàn tùy tùng và những bó đuốc chiếu sáng đường đi của họ. VớI nhiều tiếng lóc cóc của các móng ngựa, và những tiếng la đến khản giọng của các ngườI đàn ông, họ tụ tập lạI trong sân. Một lần nữa cái cổng nặng nề lạI được mở toang ra, và những đoàn ngườI chảy qua. Trở nên yếu dần trong một khoảng cách xa là tiếng clop clop của những con ngựa, và tiếng trò chuyện của những ngườI cưỡI, cho đến khi không còn có họ là một sự im lặng của bóng đêm.
![]() |
Filed under: The Third Eye
by T. Lobsang Rampa,
Doubleday & Company,Inc., New York, 1957.
Chương 1
Những ngày thơ ấu tại quê nhà
“Oé. Oé. Đã bốn tuổI rồi mà vẫn không ngồi vững được trên yên ngựa! Con sẽ không bao giờ trở thành một người đàn ông! Người cha quý tộc của con sẽ nói như thế nào?” VớI những lờI này, Lão Tzu vung ra con ngựa nhỏ – và ngườI cưỡi không được may mắn – một cú đánh thật mạnh phía sau của con vật, và nhổ một bãi nước bọt vào trong bụi.
Những mái nhà bằng vàng và những mái vòm của điện Potala sáng lập loè dướI ánh nắng mặt trờI gay gắt. Gần hơn, mặt nước xanh của hồ trong Đền Thờ Con Rắn gợn sóng lăn tăn vì sự qua lạI của những con chim nước. Xa hơn nữa dọc theo những con đường rảI đá là những tiếng la hét và kêu gọI những con yak (một loạI bò chỉ có ở Tây Tạng) vừa lên đường ra khỏI thành phố Lhasa. Từ một nơi gần hơn là những tiếng dộI lồng ngực “bmmn,bmmn,bmmn” của tiếng kèn trumpet rất trầm khi các nhà sư nhạc công đang thực tập trên những khoảng đồng trống rất xa khỏI các đám đông.
Nhưng tôi không có thờI gian cho những việc thường ngày, thông thường đó. Việc rất quan trọng của tôi là ngồI vững trên lưng con ngựa nhỏ rất khó bảo. Nakkim có những việc khác trong đầu. Hắn ta muốn được tự do khỏI tôi, tự do được gặm cỏ, được lăn ngửa ra và đạp bốn chân của hắn vào không khí.
Lão Tzu là một đốc công tàn nhẫn và đầy cấm đoán. Trong cả cuộc đờI, ông đã trảI qua nhiều khó nhọc và lạnh lùng, và bây giờ phảI làm ngườI trông nom và hướng dẫn cưỡI ngựa cho một đứa bé trai bốn tuổI, sự kiên nhẫn của ông ta thường nhanh chóng mất đi dướI sự căng thẳng đó. Là một ngườI đàn ông xứ Kham, ông ta, cùng vớI những ngườI khác, đã được chọn lựa bởI kích thước và sức mạnh. Cao gần bảy feet, và khổ ngườI rộng. Hai bắp vai được độn thêm làm tăng thêm khổ ngườI rộng của ông ta. Về phía đông của Tây Tạng có một quận nơi mà những ngườI đàn ông cao và khỏe một cách dị thường. Rất nhiều ngườI cao hơn bảy feet, và những ngườI đàn ông này được chọn để hành động như là những nhà sư công an trong tất các các tu viện. Họ độn thêm hai bờ vai để tăng kích cỡ rõ ràng của họ, bôi đen mặt để nhìn cho thêm vẻ dữ tợn, và mang theo những cây gậy dài mà họ có ý định để sử dụng chống lạI những kẻ bất lương không may mắn.
Tzu đã từng là một nhà sư công an, nhưng bây giờ đây ông ta là một vú nuôi không cho sữa cho một ông vua con! Ông ta đã bị thương quá nặng không thể đi bộ nhiều được, và do vậy trên tất cả các cuộc hành trình ông ta đều cưỡI ngựa. Vào năm 1904 ngườI Anh quốc, dướI sự chỉ huy của ĐạI tá Younghusband, đã xâm lược Tây Tạng và để lạI rất nhiều sự thiệt hại. Hiển nhiên là họ đã nghĩ rằng phương pháp đơn giản nhất để bảo đảm tình hữu nghị đốI vớI chúng tôi là cứ nã đạn đạI bác vào những toà nhà của chúng tôi và giết hạI những ngườI dân của chúng tôi. Tzu đã từng là một chiến sỹ phòng thủ, và trong trận chiến ông ta đã để cho một phần của hông trái của ông ta bị đạn cướp đi.
Cha của tôi là một trong những nhân vật lãnh đạo trong Nhà nước Tây Tạng. Gia đình của ông, và gia đình của mẹ tôi, có dòng dõi từ mườI gia đình cao quý nhất, và do vậy giữa những ngườI trong Nhà nước cha mẹ tôi có một ảnh hưởng đáng kể đến những công việc của đất nước. Sau này tôi sẽ đưa thêm nhiều chi tiết về dạng nhà nước của chúng tôi.
Cha tôi là một ngườI cao lớn, vóc dáng đồ sộ, và cao gần sáu feet. Sức mạnh của ông ta là một điều có thể đáng tự hào. Trong thờI trai trẻ, ông ta có thể nâng bổng khỏI mặt đất một con ngựa nhỏ, và ông ta là một trong vài ngườI có khả năng đánh vật vớI những ngườI đàn ông xứ Kham và trở thành ngườI khoẻ nhất.
Đa số những ngườI Tây Tạng có mái tóc màu đen và mắt màu nâu. Cha tôi là một trong những trường hợp ngoạI lệ, tóc của ông ta màu nâu hạt dẻ, và mắt của ông ta màu xám. Thông thường ông ta thường nổI giận một cách vô cớ đốI vớI chúng tôi.
Chúng tôi không gặp cha tôi một cách thường xuyên. Tây Tạng trong giai đoạn này đang có nhiều biến động. NgườI Anh quốc đã xâm lược chúng tôi vào năm 1904, và Đức Dalai Lama đã lánh nạn sang Mông Cổ, để lạI cho cha tôi và những ngườI còn lạI trong nộI các điều hành đất nước trong sự vắng mặt của Ngài. Vào năm 1909 Đức Dalai Lama quay trở lạI Lhasa sau một giai đoạn ở Bắc Kinh. Vào năm 1910 quân độI Trung Quốc, được khuyến khích bởI sự thành công của sự xâm lược của ngườI Anh, đã bất ngờ công kích Lhasa. Quân Trung Quốc bị đuổI khỏI Lhasa vào năm 1911 suốt thờI kì Cách mạng Tân HợI, nhưng không trước khi họ đã phạm những tộI ác ghê sợ đốI vớI dân tộc của chúng tôi.
Vào năm 1912 Đức Dalai Lama một lần nữa lạI quay lạI Lhasa. Trong suốt thờI gian mà Ngài đi vắng, trong những ngày gian khó nhất đó, cha tôi và những ngườI khác của NộI các, đã nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm điều hành Tây Tạng. Mẹ tôi thường nói rằng tính tình của cha tôi không bao giờ như xưa nữa sau giai đoạn đó. Điều chắc chắn rằng là ông ta đã chẳng bao giờ có thờI giờ cho những đứa trẻ chúng tôi, và chúng tôi chẳng bao giờ có tình thương của ngườI cha từ ông ta. Tôi, đặc biệt là tôi, dường như luôn làm ông ta nổI giận, và tôi bị để mặc cho những sự khoan dung hiếm có của lão Tzu “làm thành hoặc phá vỡ”, như là cha tôi từng nói.
Thành tích không tốt của tôi trong việc cưỡI ngựa được xem như là một điều xúc phạm cá nhân đốI vớI lão Tzu. Ở Tây Tạng hầu như các đứa trẻ nhỏ thuộc tầng lớp quý tộc được dạy cưỡI ngựa trước khi chúng biết đi. Kỹ năng trên lưng ngựa là rất quan trọng trong một đất nước nơi mà không có những giao thông bằng bánh xe, nơi mà tất cả các cuộc hành trình đều phảI là bằng cách đi bộ hoặc là trên lưng ngựa. Những ngườI quý tộc của Tây Tạng thực tập việc cưỡI ngựa hàng giờ nốI tiếp hàng giờ, hàng ngày nốI tiếp hàng ngày. Họ có thể đứng trên yên gỗ chật hẹp của một con ngựa phi nước đạI, và bắn trước vớI một khẩu súng trường một mục tiêu di động, sau đó chuyển sang dùng cung và mũi tên. Một đôi khi những ngườI cưỡI ngựa khéo léo sẽ phi nước đạI băng ngang qua thảo nguyên theo một độI ngũ, và đổI ngựa bằng cách nhảy từ lưng ngựa này sang lưng ngựa khác. Tôi, đã bốn tuổI rồI, cảm thấy rất khó khăn trong việc ngồI yên chỉ trên một yên ngựa!
Con ngựa nhỏ của tôi, Nakkim, trông bờm xờm, và có một cái đuôi dài. Cái đầu nhỏ của hắn ta khá thông minh. Hắn biết một con số đáng kinh ngạc các cách thức để lật nhào một ngườI cưỡI không tự tin. Một ngón nghề yêu thích của hắn là chạy một đoạn ngắn về phía trước, sau đó đứng sững lạI và hạ thấp đầu của hắn xuống. Khi tôi đang trượt ra phía trước một cách vô vọng qua cổ của hắn lên trên đầu thì hắn sẽ vung lên vớI một cú giật để mà tôi ngã lộn một vòng hoàn toàn trước khi ngã xuống đất. Sau đó hắn ta sẽ đứng mà nhìn tôi vớI một sự tự mãn thiển cận.
Những ngườI Tây Tạng không bao giờ phi ngựa bằng nước kiệu; những con ngựa lùn nhỏ và ngườI cưỡI sẽ trông rất buồn cườI trên một một ngựa nhỏ đang đi phi nước kiệu. Phần lớn thờI gian cưỡI ngựa đi thong thả là đủ nhanh, vớI nước đạI để dành cho những bài tập.
Tây Tạng đã là một nước theo chế độ thần quyền. Chúng tôi không có những thèm muốn cho những “tiến bộ” của thế giớI bên ngoài. Chúng tôi chỉ muốn có khả năng tham thiền và vượt qua những giớI hạn của thể xác. Những Nhà Thông thái của xứ chúng tôi đã từ lâu nhận thức được rằng phương Tây đã thèm muốn những của cải của Tây Tạng, và đã biết rằng khi những ngườI nước ngoài bước vào, hoà bình sẽ ra đi. Bây giờ sự đến của những người cộng sản ở Tây Tạng đã chứng tỏ rằng điều đó là đúng đắn.
Nhà tôi đã từng ở Lhasa, trong quận lịch sự tên gọI Lingkhor, bên cạnh một con đường hình vành khăn đi vòng khắp Lhasa, và ở dướI bóng của Đỉnh Núi. Có cả thảy ba con đường hình vòng tròn, và con đường ngoài cùng, Lingkhor, được sử dụng nhiều nhất bởI các tín đồ. Như là những căn nhà khác ở Lhasa, vào lúc tôi được sinh ra căn nhà của chúng tôi cao hai tầng có mặt tiền quay ra đường. Không một ai được nhìn xuống Đức Dalai Lama, do vậy giớI hạn là hai tầng. Vì sự cấm đoán về độ cao thực sự chỉ áp dụng cho một đám rước mỗi năm một lần, rất nhiều căn nhà có những cấu trúc bằng gỗ dễ tháo gỡ được đặt trên mái nhà bằng phẳng của họ trong mườI một tháng.
Nhà của chúng tôi làm bằng đá và đã được xây từ nhiều năm về trước. Nó có dạng một hình vuông rỗng, vớI một sân rộng ở bên trong. Những gia súc của chúng tôi thường sống trên nền nhà, và chúng tôi sống ở trên tầng lầu. Chúng tôi đã may mắn có một cầu thang bao gồm các bậc bằng đá dẫn từ tầng trệt lên; đa số các nhà ở Tây Tạng có một cái thang hoặc là, trong các căn nhà tranh của nông dân, là một cái cột được đánh khắc dấu mà ngườI sử dụng có cơ nguy ngã gãy chân. Những cây cột được khắc dấu này thật sự là trở nên rất trơn trượt qua quá trình sử dụng, vớI những bàn tay phủ đầy những mỡ được chuyển mỡ sang cái cột mà ngườI nông dân nếu quên, sẽ trượt nhanh xuống sàn nhà bên dưới.
Vào năm 1910, trong suốt cuộc xâm lăng của Trung Quốc, nhà của chúng tôi đã một phần bị phá hỏng và tường phía bên trong bị phá sập. Cha tôi đã cho ngườI xây lạI cao bốn tầng. Nó không nhìn về phía đường Vành Đai, và chúng tôi không thể nhìn qua đầu của Đức Dalai Lama trong suốt đám rước, và như vậy sẽ không có ai phàn nàn cả.
Cái cổng ra vào sân nhà trung tâm của tôi nặng và đen vì lâu năm. Những kẻ xâm lược Trung Quốc đã không có khả năng phá vỡ những xà gỗ cứng của nó, do vậy chúng đã phá vỡ bức tường thay vào đó. Chỉ ngay bên trên của cổng ra vào là văn phòng của ngườI quản gia. Ông ta có thể thấy tất cả ai đi vào hay đi ra. Ông ta sai bảo – và cho về – những ngườI làm và trông nom việc nhà được điều hành một cách có hiệu quả. TạI nơi này, tạI ô cửa sổ của ông ta, khi tiếng kèn trumpet báo hiệu mặt trờI lặn vang lên om sòm từ những tu viện, những kẻ ăn mày của Lhasa đi đến để nhận một bữa ăn để họ có thể trảI qua bóng tốI của buổI ban đêm. Tất cả những ngườI quý tộc hàng đầu đều bố thí cho ngườI nghèo ở trong quận của họ. Thông thường những kẻ phạm tộI bị xiềng xích sẽ đến, bởI vì có rất ít nhà tù ở Tây Tạng, và những kẻ phạm tộI phảI đi lang thang trên những con đường và xin bố thí cho thức ăn của họ.
Ở Tây Tạng những kẻ phạm tộI không bị khinh rẻ hay bị nhìn xuống như những kẻ dướI đáy xã hội. Chúng tôi nhận thức được rằng đa số chúng tôi sẽ là những kẻ phạm tộI – nếu như chúng tôi bị chỉ ra – và những ngườI không may mắn được đốI xử một cách hợp lý.
Hai nhà sư sống trong những phòng về phía bên phảI của ngườI quản gia; họ là những thầy tu của gia đình ngườI cầu nguyện hàng ngày cho sự ủng hộ của thần linh cho những hoạt động hằng ngày của chúng tôi. Những nhà quý tộc bậc kém hơn chỉ có một thầy tu gia đình; nhưng vị trí của gia đình chúng tôi đòi hỏI hai người. Trước bất kì sự kiện quan trọng nào, những nhà sư này đều được hỏI ý kiến và được yêu cầu cầu nguyện cho những điều tốt lành từ các vị thần linh. Cứ ba năm một lần những vị thầy tu này quay trở về các tu viện và được thay thế bởI các vị khác.
Trong mỗI cánh của nhà chúng tôi là một điện thờ. Luôn luôn những ngọn đèn dầu được giữ cháy toả sáng trước những bàn thờ chạm trổ bằng gỗ. Bảy chén nước thánh được giữ lau sạch và lạI được làm đầy một vài lần trong ngày. Nước phảI sạch, bởI vì các vị thần linh có thể muốn đến và uống từ các chén nước. Những vị thầy tu đều được cung cấp ăn uống đầy đủ, ăn cùng những thức ăn như là của gia đình, để mà họ có thể cầu nguyện tốt hơn và nói cho những vị thần linh rằng là thức ăn của chúng tôi ngon như thế nào.
Về phía trái của vị quản gia là vị chuyên gia về luật pháp, mà nhiệm vụ của ông ta là trông coi những việc trong nhà được tiến hành một cách hợp lý theo đúng luật pháp. Những ngườI Tây Tạng rất theo đúng luật pháp, và cha tôi phảI là một ví dụ điển hình trong việc tuân thủ theo pháp luật.
Những đứa con cái, anh tôi Paljor, chị tôi Yasodhara, và tôi, sống trong khu mớI xây, ở cạnh một quảng trường xa đường cái. Về phía bên tay trái là một điện thờ, về phía bên phảI là một trường học một phòng mà con cái của những ngườI làm cũng phảI theo học. Những bài học của chúng tôi dài và khác nhau. Paljor không ở trong thân xác được lâu. Anh ta yếu ớt và không thích hợp vớI cuộc sống khó khăn mà cả hai chúng tôi đều phảI chịu đựng. Trước khi lên bảy tuổI anh rờI chúng tôi và quay trở lạI Vùng Đất của Nhiều Đền Thờ. Yaso lên sáu tuổI khi anh ta qua đờI, và tôi thì mớI bốn tuổi. Tôi vẫn còn nhớ họ đã đến vớI anh như thế nào khi anh nằm, một cái vỏ trống, và những NgườI Lo Việc Chết đem anh ta đi khỏI để được chặt ra và đem cho chim ăn xác ăn theo đúng như truyền thống.
Bây giờ là NgườI Kế Nghiệp của Gia đình, sự huấn luyện của tôi được tăng cường. Tôi đã được bốn tuổI và rất thờ ơ vớI việc cưỡI ngựa. Cha tôi thật sự là một ngườI đàn ông khó tính và như là một Hoàng tử của Nhà Thờ ông ta thấy rằng con của ông ta phảI có kỷ luật nghiêm khắc, và là một tấm gương để những đứa trẻ khác nên được dạy dỗ như thế nào.
Ở nước của chúng tôi, đứa bé có thứ bậc càng cao, sự huấn luyện càng nặng nề. Một số ngườI quý tộc bắt đầu nghĩ rằng những đứa trẻ nên có thờI gian thoảI mái hơn, nhưng không phảI là cha tôi. Quan điểm của ông ta là: một đứa trẻ nghèo sẽ không có hy vọng của những tiện nghi sau này, do vậy nên đốI xử tốt và quan tâm đến nó khi nó còn nhỏ. Những đứa trẻ thuộc tầng lớp cao sẽ có những của cảI và tiện nghi chờ đón trong những năm sau này, do vậy phảI thật tàn nhẫn vớI nó trong suốt thờI trẻ thơ và thờI trai trẻ, để mà hắn ta có những kinh nghiệm về khó khăn mà bày tỏ sự quan tâm cho những ngườI khác. Điều này cũng là quan điểm chính thức của toàn đất nước. DướI hệ thống này những kẻ yếu không tồn tạI được, nhưng những ngườI tồn tạI được có khả năng vượt qua được mọI thứ.
Tzu chiếm một phòng ở tầng trệt và rất gần cổng ra vào chính. Cho những năm tháng mà ông ta đã trảI qua, như là một nhà sư công an, đã có khả năng thấy hết tất cả mọI loạI ngườI và bây giờ đây ông ta không thể nào chịu nổI, chỉ muốn sống ẩn dật, xa lánh tất cả mọI thứ. Ông ta sống gần chuồng ngựa nơi mà cha tôi cất giữ hai mươi con ngựa và tất cả những con ngựa nhỏ (pony) và những gia súc làm việc.
Những ngườI giữ ngựa ghét sự hiện diện của Tzu, bởI vì ông ta lăng xăng và hay can thiệp vào công việc của họ. Khi cha tôi đi đâu bằng cưỡI ngựa ông ta có sáu ngườI đàn ông có vũ trang đi kèm bảo vệ ông. Những ngườI đàn ông này mặc đồng phục, và Tzu luôn luôn lăng xăng xung quanh họ, bảo đảm rằng tất cả mọI thứ về trang thiết bị của họ đều đâu vào đấy.
Vì những lý do nào đó sáu ngườI đàn ông này thường lùi những con ngựa của họ dựa vào một bức tường, và sau đó, vừa khi cha tôi xuất hiện trên ngựa của ông ta, họ sẽ phi về phía trước để gặp ông ta. Tôi thấy rằng nếu như tôi dựa ra ngoài cửa sổ của một nhà kho, tôi có thể chạm vào một trong những ngườI cưỡI ngựa khi ông ta ngồI trên lưng ngựa. Một ngày kia, vì rảnh rỗI, tôi một cách cảnh giác luồn một sợI dây vòng qua sợI dây lưng da chắc chắn của ông ta trong khi ông ta đang loay hoay vớI những dụng cụ của mình. Hai đầu dây được tôi buộc lạI và vòng qua một cái móc ở bên trong cửa sổ. Trong sự hốI hả tôi không bị ai chú ý. Cha tôi xuất hiện, và những ngườI cưỡI ngựa lao tới phía trước. NgườI thứ sáu bị kéo giật lạI về phía sau rơi khỏI ngựa của ông ta, và hô hoán lên rằng ma quỷ đang níu kéo ông ta. Thắt lưng của ông tabị đứt và trong cơn hỗn loạn, tôi đã có thể kéo đi sợI dây và bỏ trốn mà không bị ai bắt gặp. Điều đó đã làm tôi rất vui sướng, sau này, để nói: ” Ông cũng vậy, Ne-tuk, không thể ngồI vững trên yên ngựa!”
Những ngày của chúng tôi khá là cực nhọc, chúng tôi thức giấc trong vòng mườI tám tiếng trên tổng cộng hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Những ngườI Tây Tạng tin rằng không được khôn ngoan lắm khi đi ngủ khi trờI còn sáng, hoặc nếu không ma quỷ của ban ngày có thể sẽ đến mà bắt đi. Ngay cả những em bé nhỏ cũng được giữ cho thức giấc để mà chúng không bị ma quỷ quấy phá. Những ngườI bị bệnh cũng phảI giữ cho thức giấc, và một nhà sư được gọI vào cho việc này. Không phảI được tha thứ khỏI việc đó, ngay cả những ngườI đang hấp hốI cũng được giữ cho tỉnh giấc càng lâu càng tốt, để mà họ có thể biết được con đường đúng đắn phảI đi qua những vùng biên giớI để sang thế giớI kế tiếp.
TạI trường chúng tôi phảI học các ngôn ngữ, tiếng Tây Tạng và tiếng Trung Quốc. Tiếng Tây Tạng có hai thứ tiếng riêng biệt, thứ tiếng phổ thông và thứ tiếng lễ nghi. Chúng tôi sử dụng tiếng phổ thông khi nói chuyện vớI những ngườI giúp việc và những ngườI cấp bậc kém hơn, sử dụng thứ tiếng lễ nghi đốI vớI ngườI ngang hàng hoặc cao bậc hơn. Con ngựa của một ngườI tầng lớp cao hơn phảI được gọI theo đúng nghi lễ! Con mèo quý tộc của chúng tôi, đi len lén ngang qua sân nhà vớI những vụ việc bí ẩn, phảI được gọI bởI một ngườI giúp việc: “Xin cậu Mèo tôn kính rủ lòng đến đây mà uống thứ sữa không có giá trị này?” Bất kể là “cậu Mèo tôn kính” được gọI như thế nào, ả ta sẽ không bao giờ đến cho đến khi ả đã sẵn sàng.
Phòng học của chúng tôi khá rộng, có một lúc nó đã được sử dụng như là một nhà ăn cho các nhà sư đến viếng thăm, nhưng từ khi những toà nhà mớI được xây xong, căn phòng đó đã được làm trở thành phòng học cho khu nhà. Toàn bộ chúng tôi có khoảng sáu mươi đứa trẻ tham dự lớp học. Chúng tôi ngồI xếp bằng trên sàn nhà, cạnh một cái bàn, hoặc là một cái ghế dài, cao khoảng mườI tám inch. Chúng tôi ngồI xoay lưng về phía thầy giáo, để mà chúng tôi không biết rằng ông ta đang nhìn về phía chúng tôi. Điều này làm chúng tôi làm việc chăm chỉ trong mọI lúc. Giấy ở Tây Tạng được làm bằng tay và đắt tiền, quá đắt tiền để phí phạm cho lũ trẻ. Chúng tôi sử dụng những bảng đá đen, những phiến rộng mỏng khoảng mườI hai inch nhân mườI bốn inch. Những “bút chì” của chúng tôi là một dạng phấn cứng có thể nhặt được ở ĐồI Tsu La, khoảng mườI hai ngàn feet cao hơn Lhasa, mà Lhasa đã cao mườI hai ngàn feet bên trên mặt biển rồi. Tôi thường cố gắng kiếm những cục phấn vớI sắc màu hơi đỏ, nhưng chị Yaso rất rất thích loạI phấn hồng mềm. Chúng tôi có thể tìm thấy khá nhiều màu sắc: các loạI màu đỏ, các màu vàng, màu xanh da trờI và xanh lục. Một số các màu sắc, tôi tin là do sự có mặt của các quặng kim loạI có mặt trong nền phấn mềm. Mặc cho nguyên nhân là những điều gì, chúng tôi rất vui là tìm thấy được chúng.
Môn số học thật sự quấy rầy tôi. Nếu như bảy trăm và tám mươi ba nhà sư mà mỗI ngườI uống năm hai cốc tsampa mỗI ngày, và mỗI cốc có thể chứa năm phần tám của một pint (khoảng 0,58 lít), kích cỡ nào của bồn chứa được cần để có thể cung cấp cho cả một tuần? Chị Yaso có thể làm những điều này mà không cần suy nghĩ gì về nó. Tôi, thế đó, tôi không được sáng dạ cho lắm.
Tôi chiếm được sở trường khi chúng tôi học điêu khắc. Đó là một môn học mà tôi yêu thích mà tôi có thể vượt qua một cách khả dĩ khá tốt. Tất cả các việc in ấn ở Tây Tạng được làm từ các phiến gỗ được khắc, và khả năng điêu khắc được xem như là một vốn quý. Những đứa trẻ của chúng tôi không thể có gỗ để mà hoang phí. Gỗ ở đây rất đắt bởI vì nó phảI được đem sang từ tận xứ Ấn Độ. Gỗ Tây Tạng thì quá cứng và bị sai giống. Chúng tôi sử dụng một loạI đá mềm như xà phòng, mà nó có thể được cắt dễ dàng vớI một con dao sắc. Một đôi khi chúng tôi sử dụng loạI bơ của con yak đã để lâu.
Một điều mà không thể nào quên là sự nhắc lạI thuộc lòng các Luật. Những điều này chúng tôi phảI nói lúc bước vào phòng học càng sớm càng tốt, và một lần nữa ngay trước khi chúng tôi được phép rờI phòng học. Những Luật này là:
· Đền đáp điều tốt vớI ngườI có lòng tốt.
· Không đánh lộn vớI ngườI hiền lành.
· Đọc các bộ Kinh và hiểu chúng.
· Giúp đỡ những ngườI láng giềng.
· Luật lệ hà khắc đốI vớI ngườI giàu có để dạy cho họ sử hiểu biết và công bằng.
· Luật lệ nhẹ nhàng đốI vớI ngườI nghèo khó để cho họ thấy tình thương.
· Trả nợ đúng hạn.
Và để cho không có khả năng nào để quên, những Luật này được khắc lên những biểu ngữ và đặt lên trên bốn bức tường của phòng học.
Cuộc sống tuy vậy không phảI chỉ có việc học và sự ảm đạm; chúng tôi vui chơi cũng hăng say như là học tập. Tất cả những trò chơi của chúng tôi được thiết kế để rèn luyện tính chịu đựng của chúng tôi và làm cho chúng tôi có thể sống sót được trong đất Tây Tạng gay gắt với những nhiệt độ tận cùng khắc nghiệt của nó. Vào giữa trưa, vào mùa hè, nhiệt độ có thể lên cao đến tám mươi lăm độ Fahrenheit, nhưng cũng cùng đêm mùa hè đó nhiệt độ có thể xuống đến âm bốn mươi độ. Trong mùa đông trờI thường xuyên rất lạnh hơn so vớI nhiệt độ này.
Nghệ thuật bắn cung mang lạI nhiều niềm vui và nó làm phát triển các cơ bắp. Chúng tôi sử dụng những cánh cung làm từ gỗ thủy tùng, được nhập khẩu từ Ấn Độ, và thỉnh thoảng chúng tôi làm những cái nỏ từ gỗ Tây Tạng. Là những ngườI theo đạo Phật chúng tôi không bao giờ bắn các mục tiêu là các vật sống. Những ngườI giúp việc giấu mặt sẽ kéo một sợI dây dài và làm cho một mục tiêu có thể nhấp nhô lên xuống – chúng tôi không bao giờ biết là đang mong đợI một cái gì. Hầu hết những ngườI khác đều có thể bắn trúng mục đích khi đứng trên yên của một con ngựa đang phi nước đại. Tôi không bao giờ có thể ngồI lâu như thế! Những cú nhảy dài lạI là một vấn đề khác. Lúc đó không có con ngựa nào để mà phảI lo lắng. Chúng tôi chạy càng nhanh càng tốt, cầm theo một cây sào cao khoảng mườI lăm feet, sau đó khi tốc độ của chúng tôi đã đủ nhanh, chúng tôi nhảy cao lên vớI sự giúp sức của cây sào. Tôi thường nói rằng những ngườI khác mắc kẹt trên lưng ngựa quá lâu nên họ không có sức mạnh trong đôi chân của họ, nhưng tôi, ngườI phảI sử dụng đôi chân của mình, thật sự có thể nhảy sào. Đó thật sự là cách rất tốt để băng qua những ngọn suốI, và cảm thấy rất hài lòng khi thấy những ngườI khác cố gắng theo tôi rơi nhào xuống nước từ người này đến người khác.
Đi trên cà kheo là một trò tiêu khiển khác của chúng tôi. Chúng tôi thường chưng diện và trở thành những ngườI khổng lồ, và thường xuyên chúng tôi đánh nhau trên những cà kheo — ngườI nào bị ngã là kẻ thua cuộc. Những cây cà kheo của chúng tôi được làm tạI nhà, chúng tôi không thể nào lẻn đi vòng quanh đến một cái quán gần nhất để mua những thứ đó. Chúng tôi sử dụng tất cả những khả năng thuyết phục của mình trên những ngườI giữ các cửa hàng – thường là các vị Quản gia – để mà chúng tôi có thể lấy được những mảnh gỗ thích hợp. Các thớ gỗ phảI thuận nhau, và phảI không có hốc mắt gỗ nào cả. Sau đó chúng tôi phảI lấy được những miếng gỗ hình nêm thích hợp để làm chỗ đặt chân. Vì gỗ rất hiếm hoi để phung phí, chúng tôi phảI chờ đợI cho đến cơ hộI để hỏI vào giây phút thích hợp nhất.
Những cô gái trẻ và bé gái chơi một loạI cầu lông chim. Một miếng gỗ nhỏ có những cái lỗ được khoét trên một cạnh bên trên, và những sợI lông chim được cài vào. Quả cầu được giữ trên không trung bởI sử dụng chân. Cô gái phảI nâng váy lên một độ cao nhất định để cho phép đá cầu một cách tự do và từ đó chỉ được sử dụng chân của cô ta mà thôi, đụng vào tay nghĩa là cô ta bị loạI khỏI cuộc chơi. Một cô gái hoạt bát có thể giữ quả cầu trong không khí lâu đến khoảng mườI phút một lần trước khi đá trượt một cái.
Sự thích thú thật sự ở Tây Tạng, hoặc ít nhất là ở quận U, mà đó là quận nhà của Lhasa, là thú thả diều. Điều này có thể gọI là một thể thao của quốc gia. Chúng tôi chỉ có thể đắm chìm trong thú vui này trong một số thờI gian nhất định, một số mùa nhất định. Từ những năm về trước ngườI ta đã khám phá ra rằng nếu diều được thả bay cao trên những đỉnh núi, mưa sẽ rơi như trút nước, và trong những ngày đó ngườI ta nghĩ rằng Thần Mưa đã giận dữ, do vậy thả diều chỉ được cho phép vào mùa thu, mà vào lúc đó Tây Tạng ở trong mùa khô. TạI một số thờI điểm khác của năm, những ngườI đàn ông không được la lớn trong những dãy núi, bởI vì những rung động của những âm thanh của họ làm cho những đám mây tạo mưa mọng nước từ Ấn Độ có thể tan ra nhanh và tạo ra những trận mưa lớn không đúng chỗ. Bây giờ đây, vào ngày đầu tiên của mùa thu, một con diều đơn độc sẽ được gởI lên từ mái nhà của điện Potala. Chỉ trong vài phút, những con diều đủ các loạI hình dạng, kích cỡ và màu sắc bắt đầu xuất hiện khắp Lhasa, lặn ngụp và uốn lượn trong những cơn gió mạnh.
Tôi yêu thích những cánh diều bay và tôi thấy rằng con diều của tôi là một trong những con đầu tiên bay cao vụt lên. Chúng tôi làm những con diều của riêng chúng tôi, thường là vớI một khung bằng tre, và hầu như luôn luôn được phủ bởI lụa tốt. Chúng tôi không có khó khăn trong việc lấy được những loạI vật liệu vào loạI tốt đó, bởI vì đó là một điểm danh dự cho chủ nhà rằng con diều nên phảI là loạI thượng hạng nhất. Từ dạng hình hộp, chúng tôi thường lắp vào chúng một cái đầu rồng dữ tợn và vớI đôi cái cánh và cái đuôi.
Chúng tôi có những trận đánh trong đó chúng tôi cố gắng đem những con diều đốI thủ xuống đất. Chúng tôi gắn những mảnh thủy tinh vỡ vào sợI dây diều, và bao phủ một phần của sợI dây vớI những keo pha trộn vớI những mảnh thuỷ tinh nghiền nát vớI hy vọng có khả năng cắt đứt những sợI dây của các con diều khác vào đuổI bắt những con diều rơi xuống.
Một đôi khi chúng tôi thường lẻn ra ngoài vào ban đêm và đưa những con diều trôi lên trờI vớI những ngọn đèn dầu nhỏ xíu ở bên trong đầu diều và thân diều. Có lẽ những con mắt sẽ tỏa ra sắc đỏ, và thân sẽ toả ra nhiều màu sắc khác nhau nổI bật lên nền trờI tốI đen. Chúng tôi đặc biệt thích thú điều đó khi những đoàn xe bò khổng lồ được mong đợI từ quận Lho-dzong. Trong sự ngây thơ trẻ con của chúng tôi chúng tôi nghĩ rằng những ngườI dân bản xứ dốt nát từ những nơi xa xôi sẽ không biết đến những phát minh “hiện đạI” như là những con diều của chúng tôi, do đó chúng tôi thường rắp tâm đe doạ họ vớI những mưu kế của chúng tôi.
Một cách thức của chúng tôi là bỏ ba cái vỏ ốc khác nhau vào những con diều theo một cách đặc biệt, để mà khi gió thổI vào chúng, chúng sẽ tạo ra một âm thanh khóc than kì dị. Chúng tôi so sánh chúng như là những con rồng phun lửa đang kêu thét trong bóng đêm, và chúng tôi hy vọng rằng là nó sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến những ngườI lái buôn. Chúng tôi đã có những sự náo nức tuyệt vờI dọc theo cột sống khi chúng tôi nghĩ rằng những ngườI đàn ông đó đang nằm run sợ trong những túi ngủ của họ khi những con diều của chúng tôi phấp phớI trên không trung.
Mặc dù là tôi đã không biết rằng vào lúc đó, sự đùa nghịch của tôi vớI những con diều sẽ rất có ích lợI cho tôi trong cuộc đờI sau này khi tôi thật sự bay trong chúng. Bây giờ nó chỉ là một trò chơi, mặc dù là một trò chơi đầy hứng thú. Chúng tôi đã có một trò chơi mà nó có thể trở nên khá nguy hiểm: chúng tôi làm những con diều cực lớn — những vật lớn khoảng bảy đến tám feet vuông và vớI đôi cánh phóng ra ở hai bên. Chúng tôi thường đặt nằm những con diều này trên mặt đất gần một khe núi nơi mà đặc biệt có những luồng khí bốc lên cao khá mạnh. Chúng tôi sẽ leo lên lưng những con ngựa nhỏ vớI một đầu dây quấn quanh thắt lưng của chúng tôi, và sau đó chúng tôi sẽ phi nước đạI nhanh đến hết mức mà những con ngựa của chúng tôi có thể phi. Vươn lên không trung là con diều và nó sẽ bay cao lên dần và cao lên dần cho đến khi nó gặp luồng không khí đang bốc lên cao. Sẽ có một cú giật và ngườI cỡI ngựa sẽ được nâng bổng lên khỏI lưng ngựa, có lẽ vào khoảng mườI feet vào không trung và sau đó bay lượn dần xuống mặt đất. Một số kẻ bất hạnh khốn khổ suýt nữa thì bị xé xác ra làm hai mảnh nếu họ quên thả hai chân ra khỏI hai bàn đạp bên dướI yên ngựa, nhưng tôi, không bao giờ ngồI rất tốt trên lưng ngựa, có thể luôn luôn trượt ra một cách dễ dàng, và được nâng lên vớI sự thích thú. Tôi thấy rằng, vì có tính phiêu lưu dạI dột, nếu như tôi kéo mạnh sợI dây vào đúng lúc lên cao tôi có thể được kéo lên cao hơn, và một cú kéo mạnh sau đó một cách thận trọng có thể làm kéo dài chuyến bay của tôi thêm một vài giây.
Có một dịp tôi kéo mạnh sợI dây một cách nhiệt tình nhất, và cơn gió hợp tác, và tôi được nâng lên cao đến tận mái nhà bằng phẳng của một ngườI nông dân trên đó họ chứa đựng những nhiên liệu cho mùa đông.
Những ngườI nông dân Tây Tạng sống trong những căn nhà vớI những mái bằng vớI một tường chắn nhỏ, làm giữ lạI phân yak, được phơi khô và sử dụng như là nhiên liệu đốt. LoạI nhà đặc thù này được làm bằng gạch bằng bùn khô thay vì là làm bằng đá bình thường hơn, và không có ống khói: một khe hở nhỏ trên mái nhà được sử dụng để thảI khói từ đống lửa ở bên dưới. Sự đi đến đột ngột của tôi ở cuốI đầu một sợI dây làm xáo động đống nhiên liệu khi tôi bị kéo ngang qua mái nhà, tôi xúc gần hết nó qua một cái lỗ vào những ngườI cư ngụ không may mắn ở bên dưới.
Tôi không được ưa thích. Sự xuất hiện của tôi, cũng thông qua cái lỗ đó, được chào đón vớI những tiếng kêu la giận dữ và, sau khi chịu một trận đòn từ ngườI chủ nhà giận dữ, tôi bị lôi về đưa cho cha tôi để chịu một liều lượng thuốc trừng phạt khác. Đêm đó tôi nằm úp trên mặt của mình!
Vào ngày hôm sau đó tôi có một việc tởm lợm là đi duyệt qua các chuồng ngựa và thu nhặt phân yak, để tôi phảI đem nó đến nhà ngườI nông dân và thay thế những lượng phân đã bị mất trên mái nhà, mà nó là một việc khó nhọc, bởI vì khi đó tôi chưa đến sáu tuổi. Nhưng tất cả mọI ngườI đều hài lòng ngoạI trừ tôi; những đứa con trai khác có một trận cườI, ngườI nông dân bây giờ có gấp đôi số nhiên liệu so vớI lúc trước, và cha tôi đã cho mọI ngườI thấy ông ta là một ngườI nghiêm khắc và công bằng. Và tôi? Tôi trảI qua đêm kế tiếp cũng úp trên mặt, và tôi không đau nhức vì cưỡI ngựa!
NgườI ta có thể nghĩ rằng tất cả những điều này là sự đốI xử quá sức nghiêm khắc, nhưng Tây Tạng không có chỗ cho những kẻ hèn yếu. Lhasa cao mườI hai ngàn feet so vớI mặt biển, và vớI những chênh lệch nhiệt độ một cách khắc nghiệt. Những quận khác cao hơn, và điều kiện còn khắc nghiệt hơn, và những ngườI yếu đuốI có thể dễ dàng đưa những ngườI khác vào điều kiện nguy hiểm. Vì lý do này, và không phảI vì những mục đích tàn ác, những việc huấn luyện là nghiêm khắc.
Ở những độ cao hơn ngườI ta dìm những em bé vừa mớI ra đờI vào những dòng suốI lạnh đến đóng băng để thử xem liệu là chúng có đủ sức mạnh để được sống. Khá thường xuyên tôi thấy những đoàn ngườI nhỏ tiến gần đến một con suốI như vậy, có lẽ là khoảng mườI bảy ngàn feet cao hơn so vớI mặt biển. TạI đôi bờ suốI đám rước sẽ dừng lạI, và ngườI bà sẽ bế lấy đứa cháu. Xung quanh bà ta gia đình sẽ đứng quây quần thành một nhóm, bao gồm ngườI cha, ngườI mẹ, và những họ hàng thân thích. Đứa bé sẽ được cởI quần áo, và bà nộI sẽ cúi xuống và nhúng cơ thể bé nhỏ vào nước, cho đến khi chỉ còn đầu và miệng của em bé là còn tiếp xúc không khí. Trong cái lạnh cắt thịt em bé sẽ chuyển sang màu đỏ, rồI tái xanh, và tiếng khóc phản kháng của nó sẽ chấm dứt. Nó giống như đã chết, nhưng bà nộI có nhiều kinh nghiệm về những việc đó, và đứa nhỏ sẽ được nâng lên khỏI mặt nước, lau khô, mặc quần áo. Nếu em bé sống sót, thì đó là sắc lệnh của các vị thần linh. Nếu em bé chết, thì bé đã được miễn cho nhiều đau khổ trên Trái Đất. Điều này thực sự là một cách tốt bụng nhất trong một xứ sở băng giá này. Tốt hơn hết là một vài em bé chết còn hơn chúng trở thành những kẻ tàn tật vô phương cứu chữa trong một đất nước mà sự chăm sóc về y tế là hết sức khan hiếm.
Cái chết của anh trai tôi đã làm tăng sự cần thiết cho việc gia tăng cường độ của việc học của tôi, bởI vì khi tôi lên bảy tuổI tôi phảI đi vào những huấn luyện của bất kì sự nghiệp nào mà những nhà chiêm tinh sẽ khuyến cáo. Ở Tây Tạng tất cả mọI việc đều được quyết định bởI thuật chiêm tinh, từ việc mua một con yak đến những quyết định về sự nghiệp của một người. Bây giờ thờI điểm đang tiến gần kề, chỉ trước khi sinh nhật lần thứ bảy của tôi, khi mẹ tôi sẽ tổ chức một buổI tiệc lớn cho những nhà quý tộc và những ngườI thuộc tầng lớp cao cấp khác mà họ được mờI đến để nghe về dự đoán của các nhà chiêm tinh.
Mẹ tôi là một con ngườI đầy đặn, bà ta có một khuôn mặt tròn và mái tóc đen. Phụ nữ Tây Tạng mang một loạI khung gỗ trên đầu của họ, và trên đó mái tóc của họ xếp thành nếp để làm cho chúng càng đẹp càng tốt. Những cái khung này là những tác phẩm rất công phu, chúng thường được làm bằng đồ sơn mài đỏ thắm, đính lên đó là những viên đá quý cùng vớI ngọc bích và san hô được khảm vào. VớI mái tóc óng mượt nhiều dầu hiệu ứng là rất lộng lẫy.
Phụ nữ Tây Tạng sử dụng nhiều loại áo quần sặc sỡ, với rất nhiều màu đỏ, xanh cùng các màu vàng. Trong đa số các trường hợp sẽ có một tạp dề một màu, vớI một đường viền ngang lộng lẫy nhiều màu tương phản nhưng hài hoà vớI nhau. Sau đó có những đôi khuyên tai ở tai bên trái, kích cỡ phụ thuộc vào cấp bậc của ngườI mang khuyên. Mẹ tôi, vì là một thành viên của một trong các gia đình hàng đầu, có đôi khuyên tai dài hơn sáu inch.
Chúng tôi tin rằng phụ nữ nên tuyệt đốI có những quyền bình đẳng vớI nam giớI, nhưng trong việc quản lý chuyện trong nhà mẹ tôi đã đi xa hơn thế và là một ngườI độc tài không ai có quyền tranh cãi, một ngườI chuyên quyền mà biết là bà ta muốn cái gì và luôn luôn có được.
Trong sự náo động và nhộn nhịp trong việc chuẩn bị căn nhà và các sân cho buổI tiệc, bà ta thật sự là một yếu tố chính. Có những việc tổ chức cần phảI được làm, những mệnh lệnh phảI được đưa ra, và những sự sắp xếp để chiếu sáng khu lân cận phảI được suy nghĩ tới. Bà ta rất giỏI trong việc đó; đã từng du lịch hết sức cùng khắp vớI cha tôi đến tận Ấn Độ, Bắc Kinh, và Thượng HảI, và bà ta có một kho tàng của những ý nghĩ từ ngoạI quốc để tuỳ ý sử dụng.
Ngày đã được quyết định cho buổI tiệc, những thiệp mờI đã được cẩn thận viết ra bởI những nhà sư viết chữ trên những tấm giấy dày, làm bằng tay mà chúng luôn luôn được sử dụng cho việc liên lạc quan trọng nhất. MỗI giấy mờI rộng vào khoảng mười hai inch và dài khoảng hai feet: mỗI tờ giấy mờI mang gia huy của cha tôi, và, vì mẹ tôi cũng là thành phần của mườI gia đình cao cấp, gia huy của mẹ tôi cũng được đóng lên đó. Cha tôi và mẹ tôi có một con dấu chung, điều này mang tổng số lên ba dấu. Tất cả mọI thứ cộng lại làm cho những tờ giấy mờI là những tài liệu gây ấn tượng mạnh mẽ nhất. Điều này làm tôi hoảng sợ vô cùng khi nghĩ rằng tất cả những sự quan trọng hoá này là chỉ có vì tôi. Tôi đã không biết rằng là tôi thật sự chỉ là sự quan trọng thứ hai, và là Sự Kiện Xã HộI mớI là quan trọng nhất. Nếu như tôi được bảo là sự rình rang của bữa tiệc sẽ ban lạI thanh thế khá lớn cho cha mẹ tôi, nó sẽ mang lạI tuyệt đốI không là gì cả cho tôi, do vậy mà tôi tiếp tục sợ hãi.
Chúng tôi đã thuê những ngườI đưa thư đặc biệt để gửI đi những thư mờI này; mỗI ngườI đàn ông cưỡI trên một con ngựa nòi. Mỗi người mang một cây gậy được chẻ ra, bên trong mang một tờ giấy mời. Cây gậy được phủ lên một bản sao của huy hiệu của dòng họ tôi. Những cây gậy được trang trí một cách lộng lẫy vớI những băng giấy in những lờI cầu nguyện bay phất phơ trong gió. Có một sự huyên náo trong sân nhà tôi khi tất cả những ngườI đưa thư sẵn sàng rờI nhà cùng một lúc. Những ngườI có mặt la khản cả giọng, những con ngựa hí lên, và những chú chó đen to lớn đang sủa điên tiết lên. Có tiếng những ngụm bia Tây Tạng được nuốt ực trong giây phút cuốI cùng trước khi những cốc bia được bỏ xuống loảng xoảng khi cái cổng chính to nặng được mở ra ầm ầm, và một độI quân vớI những tiếng hò la điên cuồng phi ra theo nước đại.
Ở Tây Tạng những ngườI đưa thư đưa những tin nhắn được viết ra, nhưng cũng được đưa cho một bản nói miệng mà có thể rất là khác biệt. Trong những ngày xa xưa về trước, những tên cướp có thể mai phục những ngườI đưa thư và hành động dựa trên những tin nhắn được viết ra, chẳng hạn như là tấn công một căn nhà hay một đám rước không được bảo vệ cẩn mật. Nó trở thành một thói quen để viết ra những lờI nhắn dụng ý đánh lạc hướng để dụ dỗ cho những tên cướp đi vào những nơi mà chúng có thể bị bắt gọn. Tục lệ xưa về lờI nhắn được viết ra và lờI nhắn bằng miệng sống sót trong quá khứ. Ngay cả bây giờ, đôi khi hai lờI nhắn là khác nhau, nhưng bản nói miệng luôn luôn được chấp nhận là đúng.
Trong nhà mọI thứ đều bận rộn và náo nhiệt. Những bức tường được lau chùi và sơn phết lạI, những sàn nhà được cạo nhẵn và những bản gỗ được đánh bóng cho đến khi chúng thật sự là nguy hiểm khi bước trên đó. Bàn thờ gỗ được chạm trổ trong phòng chính được lau chùi và sơn lạI và rất nhiều đèn dầu bơ mớI được đặt vào sử dụng. Một số của những cây đèn này được làm bằng vàng và một số làm bằng bạc, nhưng tất cả chúng đều được đánh bóng để mức khó mà nhận ra được cái nào là cái nào. Hầu hết thờI gian mẹ tôi và ngườI quản gia chính bận rộn vòng quanh, chỉ trích chỗ này, ra lệnh chỗ kia, và nói chung là làm cho những ngườI giúp việc một thờI gian cực khổ. Chúng tôi có hơn năm mươi ngườI giúp việc trong một lúc, và thêm những ngườI khác được thuê cho sự kiện sắp đến. Tất cả họ đều được giữ cho bận rộn, nhưng tất cả họ đều làm việc hăng say. Ngaycả cái sân cũng được cạo bóng cho đến khi những viên đá sáng lên như thể là nó vừa được lát.
Những khoảng cách giữa các viên đá được làm đầy vớI những vật liệu màu để tăng thêm vẻ đẹp bên ngoài. Khi tất cả những việc này đã được làm xong, những ngườI giúp việc không may được gọI đến trước mặt mẹ tôi và được ra lệnh chỉ mặc những bộ đồ sạch nhất của các áo quần sạch.
Trong các nhà bếp có rất nhiều các hoạt động; thức ăn được chuẩn bị vớI những số lượng lớn. Tây Tạng là một tủ lạnh thiên nhiên, thức ăn có thể được chuẩn bị và giữ nguyên hầu như là trong một thờI gian vô hạn định. Khí hậu là rất, rất lạnh, và khô hanh đi kèm vớI nó. Nhưng ngay cả khi nhiệt độ tăng lên, sự khô hanh giữ cho các thức ăn vẫn tốt. Thịt sẽ được giữ trong vòng khoảng một năm, trông khi các loạI hạt có thể giữ được hàng trăm năm.
Những ngườI Phật giáo không sát sinh, do vậy chỉ có sẵn những thịt từ những con vật rơi xuống từ các vách đá, hoặc là bị giết bởI tai nạn. Những tủ đựng thức ăn của chúng tôi chất đầy những thứ thịt đó. Có những ngườI làm nghề mổ thịt ở Tây Tạng, nhưng họ là thuộc giai cấp “không được đụng tớI”, và những gia đình chính thống không giao thiệp vớI họ.
Mẹ tôi đã quyết định đãi các vị khách một bữa ăn nhiều thức ăn quý hiếm và đắt tiền. Bà dự định đãi họ hoa đỗ quyên được ướp trước. Những tuần trước đó, những ngườI giúp việc đã đi khỏI sân nhà đến tận chân núi của dãy Himalaya nơi những bông hoa ưu tú nhất có thể được tìm thấy. Ở đất nước của chúng tôi, những cây đỗ quyên lớn lên vớI kích cỡ khổng lồ, và vớI một sự đa dạng về màu sắc và hương thơm đáng kinh ngạc. Những bông hoa mà chưa nở hết mức được chọn và được rửa cẩn thận nhất. Một cách cẩn thận, bởI vì nếu như có bất kì một vết thâm nào, thức ướp sẽ bị hỏng. Sau đó mỗI bông hoa được nhúng vào trong một hỗn hợp nước và mật ong trong một lọ thủy tinh lớn, vớI một sự chú ý cẩn thận để cho không một bọt không khí nào bị bẫy lạI. Lọ được đậy kín lạI, và cứ mỗI ngày trong nhiều tuần sau đó những lọ thuỷ tinh này được đem ra phơi nắng và xoay trở sau từng khoảng thờI gian nhất định, để cho các phần của bông hoa đủ phơi ra ngoài ánh sáng. Hoa lớn dần một cách chậm chạp, và trở nên đầy vớI mật hoa được sản sinh ra từ mật ong – nước. Một số ngườI thích phơi bông hoa ra không khí trong một vài ngày trước khi ăn, để nó khô và trở nên hơi dòn, nhưng không mất đi hương vị hay hình dáng. Những ngườI này cũng rắc một ít đường lên những cánh hoa để bắt chước tuyết. Cha tôi cằn nhằn về chi phí cho những thức ướp này: “Chúng ta có thể mua mườI con yak vớI những con bê vớI những khoản mà bà đã dùng trên những bông hoa tươi đẹp này,” ông ta nói. LờI trả lờI của mẹ tôi là thường tình của những ngườI phụ nữ:” Đừng dạI dột! Chúng ta phảI phô trương trước mọI ngườI, và dù sao đi nữa, đây là phía của tôi trong căn nhà này.”
Một thức ăn quý khác là vây cá mập. Thứ này được mua từ Trung Quốc, cắt nhỏ ra, và làm thành súp. Một ngườI nào đó đã từng nói rằng “súp vây cá mập là thức ăn ngon nhất dành cho những ngườI sành ăn trên thế giớI”. ĐốI vớI tôi thứ đó có hương vị ghê tởm; nó thực sự là một cực hình để nuốt chúng, đặc biệt là vào thờI gian nó lên đến Tây Tạng, ngườI chủ nguyên thủy của con cá mập chắc chắn là không thể nhận ra nó. Nói một cách nhẹ nhàng đi, nó hơi một chút “trật vị”. Điều đó, đốI vớI một số ngườI khác, có vẻ như là làm tăng hương vị.
Thức ăn thích nhất của tôi là những măng tre mọng nước, cũng được mang đến từ Trung Quốc. Những thứ này cũng được nấu trong nhiều cách khác nhau, nhưng tôi thích chúng hơn trong dạng sống vớI một chút ít muối. Sự chọn lựa của tôi chỉ là các đầu măng vừa mới nhú có màu vàng xanh. Tôi sợ rằng rất nhiều búp măng, trước khi nấu, bị mất những đầu măng trong một cách thức mà ngườI nấu chỉ có thể đoán mà không biết chắc! Điều đó là hơi đáng tiếc, bởI vì ngườI nấu cũng thích chúng như vậy hơn.
Những người nấu ăn ở Tây Tạng là đàn ông; phụ nữ không giỏi trong việc khuấy tsampa, hoặc là làm ra những hỗn hợp chính xác. Phụ nữ thường lấy một nắm tay của thứ này, vỗ vào một miếng của thứ khác, và cho gia vị vớI hy vọng là mọI thứ sẽ ổn thoả cả. Những ngườI đàn ông kỹ lưỡng hơn, cẩn thận hơn, và là những ngườI nấu ăn tốt hơn. Phụ nữ chỉ giỏI việc phủI bụI, nói, và, dĩ nhiên, cho một vài thứ khác. Không giỏI trong việc pha chế tsampa, tuy nhiên.
Tsampa là thức ăn chính cho ngườI Tây Tạng. Một vài ngườI sống nhờ vào tsampa và trà từ bữa ăn đầu tiên trong cuộc đờI của họ đến bữa ăn cuốI cùng. Nó được làm từ lúa mạch mà được nướng lên đến khi vàng nâu giòn. Sau đó những hạt nhân lúa mạch được đập vỡ để mà bột trong đó lộ ra, sau đó nó được nướng trở lại. Thứ bột này được đặt vào trong một cái chén, và trà nóng pha bơ được thêm vào. Hỗn hợp này được trộn đều lên cho đến khi nó đạt đến độ đặc của bột nhão. MuốI, chất borax, và bơ của yak được thêm vào hương vị. Kết quả– tsampa – có thể được cuộn lạI thành những tấm, được làm thành bánh bao, hoặc ngay cả được đổ vào những khuôn vớI nhiều hình dạng trang trí. Tsampa là một thức ăn buồn tẻ đơn độc, nhưng nó thật sự là một thức ăn rất gọn, rất cô đọng mà có thể dùng để duy trì sự sống ở mọI độ cao và dướI tất cả các điều kiện.
Khi mà một số ngườI giúp việc đang làm tsampa, những ngườI khác đang làm bơ. Những phương pháp làm bơ của chúng tôi không thể được ca ngợI dựa trên những tiêu chuẩn vệ sinh. Những thùng đựng sữa của chúng tôi là những túi da dê lớn, vớI lông ở bên trong. Chúng được làm đầy vớI sữa yak hoặc sữa dê và sau đổ cổ túi được thắt lạI, gập lạI và buộc chặt để không bị chảy ra. Toàn bộ túi đó sau đó được xóc nảy lên nảy xuống cho đến khi bơ được hình thành. Chúng tôi có một sàn nhà làm bơ đặc biệt mà nó được lát đá nhô lên cao lên khoảng mườI tám inch. Những cái túi đầy sữa được nâng lên và thả xuống trên những thềm đá nhô cao này, mà nó có tác dụng làm “đánh tung” sữa lên. Nó thật sự là buồn tẻ khi thấy và nghe có lẽ là khoảng mườI ngườI giúp việc nâng lên rồI thảy xuống những cái túi này từ giờ này sang giờ khác. Có những tiếng ngườI thu vào trong “uh uh” khi những cái túi được nâng lên, và những tiếng sữa bị ép “zunk” khi chúng được thả xuống. Một đôi khi một túi vỡ vì sự vô ý hay vì túi đã cũ. Tôi nhớ lạI một gã thực sự vạm vỡ ngườI đang muốn phô diễn sức mạnh của mình. Anh ta làm việc nhanh gấp đôi so vớI tất cả các ngườI khác, và những mạch máu nổI lên trên cổ của anh ta vớI sự ráng sức. Một ngườI nào đó nói:” Mày đang già đi, Timon, mày làm chậm lạI đi.” Timon cằn nhằn tức giận và nắm lấy cổ túi trong đôi tay khỏe mạnh của anh ta; nâng nó lên, và thảy cái túi xuống. Nhưng sức mạnh của anh ta đã làm việc. Cái túi đã rơi xuống, nhưng Timon vẫn còn đôi tay của anh ta – và cổ túi — ở trong không khí. Phơi ra trên sàn đá là túi bị rơi. Bắn lên là một cột bơ chỉ phân nửa hình thành. Thẳng vào cái mặt đang ngây ra của Timon nó nhắm tới. Vào trong miệng, đôi mắt, đôi tai, và tóc của anh ta. Chảy khắp ngườI của anh ta, bao phủ khắp anh ta là mườI hai đến mườI lăm gallon thứ bùn loãng màu vàng.
Mẹ tôi, bị thu hút bởI tiếng ồn, xông vào. Nó chỉ là lần duy nhất mà tôi đã từng biết mẹ tôi không nói nên lời. Điều đó có thể là vì cơn giận vì sự mất mát của số bơ, hoặc bởI vì bà ta nghĩ rằng gã khốn khổ kia đang bị nghẹt thở, nhưng bà ta xé toạc cái túi da dê đã bị rách và đánh mạnh Timon khốn khổ trên đầu bằng nó. Anh ta trượt chân trên nền nhà trơn trượt, và ngã vào đống bơ trảI ra vung vãi.
Những ngườI làm công vụng về, như là Timon, có thể làm hỏng chỗ bơ. Nếu họ không cẩn thận khi thả những túi da xuống nền đá nhô lên, họ có thể làm cho những sợI lông bên trong lỏng ra và trộn lẫn vớI bơ. Không ai cảm thấy phiền hà khi nhặt ra một hay hai tá các sợI lông nhỏ khỏI bơ, nhưng nguyên một nắm lớn sẽ bị chau mày. Những thứ bơ đó sẽ được để riêng ra để dùng đốt đèn hay phân phốI cho những ngườI ăn mày, họ sẽ hâm nóng nó lên và lọc nó thông qua một miếng vảI. Cũng để dành cho những ngườI ăn mày là những “lỗI lầm” trong việc chuẩn bị những bữa ăn. Nếu như ngườI chủ nhà muốn để cho những ngườI hàng xóm biết rằng ông ta muốn đưa ra một tiêu chuẩn cao, những thức ăn ngon thật sự sẽ được chuẩn bị và được đưa ra trước những ngườI ăn mày như là “lỗI lầm”. Những quý ông vui vẻ, được ăn no đủ này sẽ đi dạo vòng quanh đến những căn nhà khác và kể rằng họ đã được ăn uống ngon như thế nào. Những ngườI hàng xóm sẽ trả lờI khi thấy rằng những ngườI ăn mày đã có một bữa ăn rất ngon. Có nhiều thứ cần phảI được nói đến về cuộc sống của một ngườI ăn mày ở Tây Tạng. Họ không bao giờ muốn; bằng cách sử dụng “những mánh khoé làm ăn” họ có thể sống hơn no đủ. Không có sự xấu hổ trong việc ăn mày ở hầu hết các nước phương Đông. Rất nhiều nhà sư đã đi khất thực từ tu viện này sang tu viện khác. Đó là một thực hành được công nhận và nó không được xem như là kém hơn, chẳng hạn như, việc quyên góp cho mục đích từ thiện trong các nước khác. Những ngườI đã chu cấp một bữa ăn cho một nhà sư trên đường khất thực được xem như đã làm một điều tốt. Những kẻ ăn mày, cũng vậy, có những luật hành xử riêng của họ. Nếu một ngườI đàn ông bố thí cho một kẻ ăn mày, ngườI ăn mày đó sẽ tránh đường ra và sẽ không tiến lạI ngườI cho trong một khoảng thờI gian nào đó.
Hai vị thầy tu gắn liền vớI nhà chúng tôi cũng dự phần trong những việc chuẩn bị cho những sự kiện sắp tới. Họ đi đến từng xác súc vật trong tủ đựng thức ăn của chúng tôi và cầu nguyện cho những linh hồn của những súc vật đã từng chiếm chỗ trong những thân xác đó. Đó là niềm tin của chúng tôi rằng nếu như một con thú vật bị giết – ngay cả là do tai nạn – và bị ăn thịt, con ngườI sẽ mang một nợ đốI vớI con vật đó. Những nợ nần này được trả bằng cách cho một vị thầy tu cầu nguyện trên thân xác con vật trong hy vọng bảo đảm rằng con vật sẽ đầu thai vào tầng lớp cao hơn trong kiếp sống kế tiếp trên Trái Đất. Trong những tu viện và những đền thờ một số nhà sư dành trọn cả thờI gian của họ để cầu nguyện cho các súc vật. Những thầy tu của chúng tôi có nhiệm vụ cầu nguyện trên những con ngựa, trước một cuộc hành trình dài, những lờI cầu nguyện để tránh cho con ngựa trở nên quá mệt mỏi. NốI tiếp về việc này, những con ngựa của chúng tôi không bao giờ phảI làm việc liên tục trong hai ngày. Nếu như con ngựa đã đi trong suốt một ngày, sau đó nó phảI được nghỉ ngơi trong ngày kế tiếp. Luật lệ tương tự cũng được áp dụng cho những gia súc làm việc. Và tất cả chúng nó đều biết điều đó. Nếu như, bằng một sự tình cờ nào đó một con ngựa được chọn cho việc đi lạI, và nó đã đi trong ngày hôm trước, nó sẽ đứng yên và từ chốI không đi. Khi yên ngựa được cởi ra, nó sẽ quay đí vớI một cái lắc đầu như thể muốn nói: “Thế đấy, tôi vui lòng thấy rằng sự bất công đã được gỡ đi!” Những con lừa xử tệ hơn. Chúng sẽ chờ cho đến khi chúng được chất đầy hàng hóa lên, và sau đó chúng sẽ nằm xuống và cố gắng lăn hàng hoá đi.
Chúng tôi có ba con mèo, và chúng thi hành nghĩa vụ trong mọI lúc. Một con sống trong những chuồng ngựa và thi hành một kỷ luật nghiêm khắc trên những con chuột. Chúng phảI là những con chuột hết sức thận trọng để vẫn còn là những con chuột và không phảI là thức ăn cho mèo. Một con mèo khác sống trong bếp. Hắn ta đã già, và có vẻ khờ khạo. Mẹ của hắn ta đã bị làm hoảng sợ bởI những khẩu súng của Đoàn thám hiểm Younghusband vào năm 1904, và hắn đã được sinh ra quá sớm và là lứa duy nhất sống sót. Một cách đúng đắn, hắn ta được gọI là “Younghusband”. Con mèo thứ ba là một bà mệnh phụ khả kính sống vớI chúng tôi. Ả là một gương mẫu của nghĩa vụ làm mẹ, và đã làm hết sức mình để cho thấy rằng dân số mèo không được phép giảm xuống. Khi không bận rộn trong việc chăm sóc như là một y tá cho những con mèo con, ả ta thường đi theo mẹ tôi từ phòng này sang phòng khác. Ả ta nhỏ nhắn và đen, và mặc dù có một sức ăn rất khoẻ, ả ta trông giống như một bộ xương biết đi. Những gia súc ở Tây Tạng không phảI là những thú được cưng, cũng không phảI là những nô lệ, chúng là những sinh vật vớI một mục đích hữu ích để phụng sự, những sinh vật vớI những quyền giống như là những con ngườI có quyền của mình. Theo như những niềm tin của Phật giáo, tất cả các loài sinh vật, đúng hơn là tất cả loài vật, có những linh hồn, và được tái sinh trên trái đất trong những giai đoạn sống cao hơn sau đó.
Rất nhanh chóng những lờI phúc đáp cho những lờI mờI của chúng tôi tiến vào. Những ngườI đàn ông phi ngựa nước đạI đến những cổng nhà của chúng tôi khua lên những cây gậy chẻ đôi trong đó mang những lờI nhắn. Bước xuống từ phòng của ông ta, ngườI quản gia chào đón những ngườI nhắn tin của những gia đình quý tộc trong danh dự. NgườI đàn ông sẽ nắm lấy lờI nhắn từ cây gậy, và hổn hển báo lạI lờI nhắn miệng. Sau đó ông ta sẽ hạ mình xuống đến đầu gốI và chìm xuống mặt đất vớI một màn diễn kịch trang nhã để nói lên rằng ông ta đã sử dụng hết sức lực của mình để đưa tin nhắn đến Nhà của Rampa. Những ngườI giúp việc của chúng tôi sẽ trình diễn phần của họ xúm lạI thành vòng tròn vớI những lờI tán thưởng: “TộI nghiệp anh ta, anh ta đã đi một chuyến thật nhanh đến tuyệt vời. Vỡ tung trái tim vớI tốc độ cao đó, không nghi ngờ gì nữa. Anh thật tộI nghiệp và cao quý!”. Một lần tôi đã hoàn toàn xấu hổ vì la lên: ” Ồ không anh ta đã không như thế. Tôi thấy anh ta nghỉ một đoạn nhỏ ở đằng kia để anh ta có thể lao nhanh ở đoạn cuốI cùng.” Thật sự kín đáo để kéo một tấm màn yên lặng lên trên cảnh tượng đau đớn theo sau đó.
CuốI cùng thì ngày đó cũng đến. Cái ngày mà tôi đã khiếp sợ, khi sự nghiệp của tôi sẽ được quyết định cho tôi, vớI không có một sự chọn lựa từ phía tôi. Những tia nắng đầu tiên của mặt trờI đang chiếu lọt qua những dãy núi xa xa khi một ngườI giúp việc chạy bổ vào phòng tôi. “Cái gì? Chưa ngủ dậy sao hả, Thứ ba Lobsang Rampa? Mày đang ngủ nướng! Bây giờ đã là bốn giờ sáng rồI, và có rất nhiều thứ phảI được làm xong. Thức dậy đi!” Tôi đẩy chăn ra một bên và bước xuống. ĐốI vớI tôi ngày này sẽ là ngày chỉ ra con đường đi của cuộc đờI tôi.
Ở Tây Tạng, hai cái tên được đặt cho, cái tên thứ nhất là ngày trong tuần mà vào ngày hôm đó ngườI đó được sinh ra. Tôi được sinh ra vào ngày Thứ ba, do đó Thứ ba là tên thứ nhất của tôi. Sau đó là Lobsang, đó là cái tên được đặt cho tôi bởI cha mẹ tôi. Nhưng nếu một đứa bé muốn đi vào tu viện nó phảI được đặt một cái tên khác, “pháp danh” của nó. Liệu là tôi có được đặt một tên khác? Chỉ có những giờ kế tiếp sẽ nói rõ được điều đó. Tôi, lên bảy tuổI, muốn trở thành một ngườI lái thuyền đư đưa sấp ngửa trên dòng sông Tsang-po, cách xa nơi này bốn mươi dặm. Nhưng hãy chờ một phút; tôi đã muốn như thế? Những ngườI lái thuyền là thuộc tầng lớp thấp bởI vì họ sử dụng những con thuyền phủ da yak chưa thuộc trảI ra trên những khung thuyền bằng gỗ. NgườI lái thuyền? Tầng lớp thấp? Không! Tôi muốn trở thành một ngườI thả diều chuyên nghiệp. Điều này tốt hơn, được tự do như không khí, tốt hơn hẳn là ở bên trong một con thuyền bọc da nhỏ hèn hạ trôi theo dòng suốI chảy mạnh. Một ngườI thả diều, đó sẽ là những gì mà tôi sẽ trở thành, và làm ra những con diều tuyệt vờI vớI những đầu diều khổng lồ và những đôi mắt loè loẹt. Nhưng ngày hôm nay những thầy tu — chiêm tinh gia sẽ có những lờI nói của họ. Có lẽ là tôi đã để cho nó hơi trễ, tôi không thể nhảy ra khỏI cửa sổ và trốn đi bây giờ. Cha tôi sẽ sớm sai ngườI đi bắt tôi trở lại. Không, dù sao đi nữa, tôi là một Rampa, và phảI đi theo đúng truyền thống. Có lẽ là những nhà chiêm tinh sẽ bảo rằng tôi nên trở thành ngườI thả diều. Tôi chỉ có thể chờ đợI và xem sự thể như thế nào.
